Chủ Nhật, 19 tháng 2, 2017

CÂU CHUYỆN THƯỞNG THỨC THƠ CỦA BÁC NGUYỄN BÀNG


Bác Bàng kể rằng:

 

Sang nhà ông bạn già hàng xóm chơi, thấy cô giúp việc vừa lau nhà vừa khe khẽ hát:

 

Hoa chanh nở giữa vườn chanh.

Thầy u mình với chúng mình chân quê

 

Được biết cô giúp việc này người dưới quê Nam Định nhưng nom không thấy một dấu vết chân quê nào còn đọng lại ở người đàn bà đã ngoài 50 tuổi.

 

Khi đã được ông bạn mời vào nhà lại thấy cô giúp việc đem phích nước sôi từ nhà bếp lên để chủ nhân pha trà mời khách, bèn hỏi cô:

 

- Ban nãy nghe cô hát rất hay. Cô có biết bài hát đó của ai làm ra không?

 

- Dạ thưa, không ạ! Mà thưa với hai ông, biết ai làm ra bài hát này cũng chẳng để làm gì. Khi rỗi việc cháu hay nghe đĩa nhạc ở phòng riêng, thấy bài nào hay hay thì cháu bắt chước hát theo, lâu dần thì thuộc ít nhiều thôi ạ!

 

- Thế cô có thích nghe ngâm thơ không?

 

- Dạ có! Hồi còn ở quê, bố cháu hay nghe đài về đêm, mỗi khi thấy các cô trên đài ngâm thơ cháu rất thích và cũng học lỏm được ít câu.

 

- Cô đã bao giờ làm thơ chưa?

 

- Dạ, ông cứ đùa cháu. Cháu sao mà làm thơ được. Phải là những thần đồng như Trần Đăng Khoa hay những người tài giỏi như Hồ Chủ Tịch, như ông Tố Hữu thì mới làm thơ được chứ ạ. Cháu chỉ thích thơ thôi. Hồi học cấp 1 cấp 2, các thày cô dạy nhiều thơ của ông Tố Hữu lắm, dạy xong bài nào bắt chúng cháu phải học thuộc lòng bài đó. Cháu sợ bị kiểm tra, học như chó gặm xương mãi mới thuộc nhưng ít lâu sau thì quên béng luôn.

 

Nghe thơ trên đài thích hơn vì mình không phải đọc mà giọng ngâm lại hay, thêm nữa chẳng lo phải học thuộc lòng, thấy bài nào hay hay thì cố học cho nhớ được vài câu để khi thấy hợp lòng mình thì ngâm ngợi lại cho thích.

 

- Những bài thơ hay hay mà cô thích là thế nào?

 

- Dạ, theo cháu thì đó là những bài ngắn gọn, có vần có điệu, nghe êm tai, dễ nhớ dễ thuộc và cháu cảm thấy với mình nó là rất hay, thích lắm!

 

Và bác Nguyễn Bàng hiên ngang kết luận:

 

Đọc thơ như công chúng, nghe thơ như công chúng thì có cần gì phải học ngữ pháp, không cần phải biết Thi pháp là cái quái gì, cũng không cần biết Tu từ học với những ẩn dụ, những động từ này nọ để cố hiểu cho bằng được bài thơ như các nhà bình tán. Cũng chẳng cần biết thủ pháp mô tê răng rứa gì. Nhà thơ cũng vậy, làm ra thơ để ai thích thì đọc chứ không phải để cho các nhà này nọ mang cách nhìn của mình ra để làm con dao cùn mổ xẻ những con chữ rất đời thường kia.

 

Sau đây là ý kiến của tôi về câu chuyện trên:

 

Một bài thơ có 3 chức năng:

 

1/ Chức năng truyền thông: chuyển tải thông điệp (tứ thơ) đến người đọc.

 

2/ Chức năng thẩm mỹ: truyền đến người đọc cái đẹp của văn chương gồm câu chữ, hình ảnh, thế trận chữ nghĩa, các biện pháp tu từ. Cái đẹp ở đây do kiến thức, kỹ thuật, nói chung là “tay nghề” của tác giả trong “chế tạo thơ ca” mà có.

 

3/ Chức năng nghệ thuật: Hồn thơ. Thi hứng càng cao, càng dạt dào thì hồn thơ càng lai láng. Nhiệm vụ lớn nhất, cao cả nhất của bài thơ là truyền được cái cảm xúc dạt dào trong lòng tác giả đến người đọc, để mong có được sự đồng cảm với người đọc.

 

Bởi thế nếu không “bắt” được tứ thơ, không hiểu được nét đẹp của văn chương chữ nghĩa mà chỉ “mang máng” rồi “nghe hơi bắc nồi chõ” thì làm sao cảm được hồn thơ. Còn nói như chị giúp việc:

 

“Dạ, theo cháu thì đó là những bài ngắn gọn, có vần có điệu, nghe êm tai, dễ nhớ dễ thuộc và cháu cảm thấy với mình nó là rất hay, thích lắm!”

 

thì cái thích ấy, cái sướng ấy chỉ là “cái tự sướng” của những kẻ “ngu si hưởng thái bình”. Chúng ta không trách gì chị giúp việc ấy và hàng vô số những người thưởng thức thơ như chị. Trong thế giới thi ca họ là những kẻ tội nghiệp, đáng thương. Chúng ta thương họ vì do hoàn cảnh, tầm hiểu biết của họ chỉ có thế.

 

Nhưng còn biết bao người yêu thơ khác, bước vào vườn thơ với tư thế khác, đẳng cấp khác, hàng triệu học sinh bước vào giờ Việt Văn để tìm học nét đẹp của văn chương thi phú với đủ loại trình độ khác nhau. Họ không bằng lòng với trình độ thưởng thức đang có mà muốn học hỏi để vươn lên. Mà vườn thơ thì mênh mông. Muốn viết một câu thơ, một lời bình lắm khi phải tra cứu mỏi tay, mỏi mắt, phải dựa vào những nhà phê bình tiếng tăm, uy tín.

 

Bác Nguyễn Bàng viết “Đọc thơ như công chúng, nghe thơ như công chúng thì có cần gì phải học ngữ pháp, không cần phải biết thi pháp là cái quái gì, cũng không cần biết tu từ học với những ẩn dụ, những động từ này nọ để cố hiểu cho bằng được bài thơ như các nhà bình tán. Cũng chẳng cần biết thủ pháp mô tê răng rứa gì. Nhà thơ cũng vậy, làm ra thơ để ai thích thì đọc chứ không phải để cho các nhà này nọ mang cách nhìn của mình ra để làm con dao cùn mổ xẻ những con chữ rất đời thường kia.” nghĩa là bác không cần phân tích xem cách nhìn của người này, người nọ đúng sai thế nào mà lại dè bỉu, chê trách chính công việc phê bình.

 

Theo tôi, câu cuối phải viết: “Nhà thơ, làm ra thơ để ai thích đọc thì đọc và ai thích phê bình thì cứ việc phê bình” mới hợp lý lẽ và thực tế. Như vậy, đoạn văn trên của bác Bàng hơi bị sai. Không! Phải nói là sai hơi bị nhiều mới đúng. Mà lại là cái sai lớn, cái sai căn bản trong việc đối thoại văn chương mới đáng tiếc.

 

Kết Luận

 

Một trong những nhiệm vụ của việc bình thơ là nâng tầm thưởng thức của người đọc thơ. Có tý hiểu biết về kỹ thuật, kinh nghiệm bếp núc, các tiêu chí thẩm định giá trị thơ ca, người đọc sẽ không còn ù ù cạc cạc khi nghe hoặc ngâm nga những vần thơ ưa thích mà sẽ tự tin hơn, sảng khoái hơn khi thả hồn vào dòng thơ.

 

Đọc thơ chỉ bằng trí sẽ không thấy hơi nóng của cảm xúc, không “bắt” được hồn thơ, sẽ chẳng bao giờ cảm được cái hay trọn vẹn của thơ. Còn nếu chỉ đọc thơ bằng hồn, không có sự soi sáng của kiến thức thì sẽ như chị giúp việc, một là, lắm khi gặp những tuyệt tác thi ca lại dè bỉu, chê bai, hai là, suốt đời“tự sướng”, sướng mà không biết vì sao mình sướng, miệng ngâm nga những vần thơ “cả đẩn” mà mắt cứ sáng long lanh, mặt rạng rỡ như đóa hoa xuân. Đó là cái sướng của những kẻ “ngây thơ hưởng thái bình” rất tội nghiệp, rất đáng thương.

 

Tôi đã từng “vừa ngây thơ vừa sướng” như thế một thời gian khá dài. Cũng may nhờ những bà chị, những người bạn, những “bậc thầy” vừa ban cho kiến thức vừa nắm tay kéo ra khỏi cái nhóm “đáng thương” đó để gia nhập một nhóm khác “ít đáng thương hơn”. Và rồi theo năm tháng, tôi tìm cách mời gọi, quy tụ chung quanh mình những người yêu thơ trình độ “khá” hơn để trao đổi, bàn luận, và cứ thế từng bậc, từng bậc tự nâng kiến thức và khả năng cảm thụ thơ ca của mình lên.

 

Bây giờ thỉnh thoảng viết mấy bài bình thơ để trước hết, thỏa mãn cái thú đam mê riêng, sau nữa, gọi là một chút đáp đền ân nghĩa những người đã ra công giúp đỡ, bồi đắp để tôi có điều kiện tự nâng cấp hồn thơ của mình. Và biết đâu những lời bình nhăng tán cuội như thế này lại tiếp tục đem đến những cuộc đối thoại về thơ ca lý thú.

 

 

League City 03/2016

 

Phạm Đức Nhì

 

nhidpham@gmail.com

Thứ Bảy, 18 tháng 2, 2017

BÌNH THƠ: PHẦN DẪN NHẬP


                                             Bình Thơ: Phần Dẫn Nhập

Bình Thơ Là Gì?

Nói nôm na là đọc một bài thơ rồi phán nó Hay hay Dở, hay ở chỗ nào, dở ở chỗ nào, giải thích và chứng minh.

Nhưng làm sao biết nó Hay hay Dở? Người bình thơ phải “sắm” cho mình một bộ thước chuẩn - chữ chuyên môn là Những Tiêu Chí Để Thẩm Định Giá Trị Một Bài Thơ.

Có 3 Tiêu Chí Chính:

1/ Tứ Thơ  

2/ Kỹ Thuật Thơ

3/ Cảm Xúc/ Hồn Thơ.

Sau nhiều năm học hỏi và chơi trò bình thơ, người viết bài này đã từ 3 Tiêu Chí Chính “đẻ” ra nhiều tiêu chí khác. Đây chính là bộ thước chuẩn mà tôi (PĐN) luôn để trước mặt mỗi khi bình thơ. Hôm nay, sau khi trao đổi với anh Thái Hưng Nguyễn mấy ngày trước, tôi sẽ đem từng cây thước một tặng các bạn trẻ trong Thơ Ca Nghệ Thuật Đương Đại. Tôi đã nhận lời mời của Trần Hạ Vi nên cũng gởi bài cho Thơ Ca Không Biên Giới. Tôi cũng kết bạn với Liêu Chi Vương nên cũng sẽ gởi bài cho Tủ Sách Thi Văn Việt. Ngoài ra, khi số lượng bài kha khá, tôi cũng sẽ gởi đến những trang báo, trang web mà tôi đã cộng tác từ trước đến nay để họ tùy nghi sử dụng.  

Tôi sẽ cố gắng dùng ngôn ngữ đời thường, tránh từ chuyên môn nếu có thể được, để cây cầu thông cảm giữa kẻ viết và người đọc luôn rộng mở.

Tại sao cùng một bài thơ mà khi bình có người khen hay, kẻ chê dở?

Có 2 lý do chính (không kể khác biệt về tôn giáo, lập trường chính trị):

1/ Thước chuẩn của mỗi người bình thơ dài ngắn khác nhau.

     Thí dụ: Về Ngôn Ngữ Thơ, nếu người bình dễ dãi (thước chuẩn ngắn) thì có thể cho là ngôn ngữ Sang Trong; nếu người bình khó (thước chuẩn dài) sẽ phán ngôn ngữ của bài thơ hơi Sến

2/ Trình độ, vốn liếng của người bình thơ cao hay thấp, nhiều hay ít: Tôi tạm chia làm 3 loại:

     a/ Bình thơ tùy hứng; tùy theo cảm nhận của mình, chọn chỗ hay, dở của bài thơ rồi nương theo tứ thơ mà bình, mà tán. Người bình loại này không có cây thước chuẩn nào trong túi.

     b/ Bình thơ dựa vào một vài thước chuẩn riêng của mình, thường là thước chuẩn về tứ thơ, phép ẩn dụ, ngôn ngữ, hình ảnh …. Tuy vậy, cái nhìn của họ về bài thơ vẫn còn phiến diện, rất thường bỏ sót những điểm Hay, điểm Dở của bài thơ.

     c/ Bình thơ với bộ thước chuẩn chuyên nghiệp: Với khoảng trên 20 cây thước chuẩn (sẽ tăng thêm theo thời gian), người bình thơ ở đây có thể tiếp cận toàn diện tác phẩm, nếu gặp lúc cao hứng, lời bình bay bướm, có thể đưa giá trị của bài bình thơ lên rất cao. Khi viết các bài Luận Văn (Essay), Luận Văn có tra cứu (Research Paper) sinh viên đại học Mỹ thường sử dụng bộ thước chuẩn tương tự như bộ thước này.

Bình thơ hay viết “một vài cảm nhận”?

Dưới con mắt người bình thơ, tùy mức độ giàu có về chất liệu để bình, thơ được chia làm 3 loại:

1/ Nghèo chất liệu: Có những bài thơ rỗng tuếch, ý tứ không mới lạ, ngôn ngữ bình thường, kỹ thuật thơ non kém, muốn bình tán cũng chẳng có gì bình tán, người bình thơ sẽ cho qua.

2/ Có một vài điểm (hay hoặc dở) nếu chạm đến sẽ cung cấp thêm kiến thức về nghệ thuật thơ cho người đọc. Trường hợp này người bình thơ nên viết cảm nhận. (Thí dụ: Chăn Trâu Đốt Lửa - Một Vài Cảm Nhận). Người bình chỉ móc trong túi ra vài ba cây thước chuẩn để bình tán những điểm hay, dở trong bài thơ.

3/ Giàu chất liệu: Nên viết lời bình một cách bài bản, tiếp cận toàn diện tác phẩm, lấy cả bộ thước chuẩn ra để trước mặt và bình tán lớp lang, thứ tự.

Bình bài thơ nào cũng sử dụng trên 20 cây thước chuẩn đó hay sao?

Không hẳn như vậy. Mỗi bài thơ, tùy tay nghề của tác giả, chỉ cần đem 6 hoặc 7 cây thước chuẩn ra là đủ.(Có bài con số đó còn ít hơn nữa). Trước tiên, liếc mắt ướm thử xem những Tiêu Chí (thường áp dụng) của bài thơ so với thước chuẩn của mình có cách biệt nhiều không? Nhiều thì bình tán, ít hoặc bằng nhau thì cho qua. Thí dụ bàn về Cảm Xúc. Nếu bài thơ khô khốc (không cảm xúc) hoặc cảm xúc dạt dào, nóng bỏng thì chỉ ra, nói ra cho độc giả biết; cảm xúc bình thường thì lờ đi hoặc chỉ nói phớt qua.

Có bộ thước chuẩn trong túi, thi sĩ sẽ biết cách làm thơ hay hơn, độc giả thưởng thức thơ hứng thú hơn, và người bình sẽ bình thơ đúng và đầy đủ hơn.

Các bạn có thắc mắc, sẽ trao đổi qua comments.

Chúc các bạn thành công.

Phạm Đức Nhì


 

 

 

                                            

Thứ Sáu, 17 tháng 2, 2017

TRAO ĐỔI VỚI CHÂU THẠCH


                        TRAO ĐỔI VỚI CHÂU THẠCH

 

Về “sức ma mị” trong thơ Nguyễn Khôi.

Cả anh Châu Thạch và bác Nguyễn Bàng đều tra tự điển và đều cho rằng hai ông Lê Mai và Nguyễn Ngọc Kiên có ý xấu khi gán cụm từ “ma mị” cho thơ NK.

Đầu tiên là anh Châu Thạch:

Trước hết tôi tra tự điển hai chữ “ma mị” và thấy giải thích như sau: Ma mị (khẩu ngữ) như ma giáo. Sau đó tôi tra tiếp chữ “ma giáo” và thấy giả thích như sau: Ma giáo (khẩu ngữ) xảo trá bịp bợm.

Sau đó là bác Nguyễn Bàng:

Tôi có cảm giác đây là một lời khen đểu mà đểu nhất ở cái từ “ma mị” bởi ma mị không chỉ như từ điển diễn giải giống như “ma giáo” mà nó còn bao hàm 3 yếu tố: Kích thích nhẹ, quyến rũ nhẹ và kinh dị nhẹ….

Và nếu đúng thế thì, nhận định ấy không chỉ coi nhẹ thơ Nguyễn Khôi mà còn coi thường người đọc thơ Nguyễn Khôi và đặc biệt là những người yêu thích thơ ông là những người không hiểu nhiều gì về nghệ thuật thi ca mà chỉ là những người rất tầm thường, bị cuốn hút bởi những tiếng thơ như tiếng hồn ma ấy chả khác gì những kẻ sợ ma nhưng thích nghe truyện ma,


Tôi cũng tra mấy cuốn tự điển rồi dạo internet vài vòng và tìm được khá nhiều cách dùng chữ “ma mị” không xấu như anh Châu Thạch và bác Nguyễn Bàng đã đưa ra để chỉ trích hai ông Lê Mai và Nguyễn Ngọc Kiên. Xin cử ra vài chỗ:

Chất ma mị trong giọng hát của Lana Del Rey


Nổi da gà trước giọng hát ma mị của Miu Lê


Ngỡ ngàng trước vẻ đẹp ma mị của Krystal (f(x)) trong MV hợp tác với thành viên ban nhạc Indie


Theo tôi “giọng hát ma mị”, “vẻ đẹp ma mị”, “thơ NK có sức ma mị” là những lời khen “đắt giá”, ý nói giọng hát của Lana Del Rey, Miu Lê, vẻ đẹp của Krystal hay thơ Nguyễn Khôi có khả năng xâm nhập và (đôi khi) chiếm đoạt tâm hồn người nghe, người xem, người đọc một cách phi logic – không thể giải thích được.

Nếu sự tra cứu và giải thích của tôi đúng với tâm ý của hai ông NNK và Lê Mai (tôi hy vọng là như vậy) thì khi viết câu “nó có sức ma mị” (ông Lê Mai viết, ông NNK trích dẫn) cả hai ông đều nghĩ là đang trao tặng nhà thơ NK một bó hoa hồng tươi thắm, nhưng qua sự phân tích của anh Châu Thạch và bác Nguyễn Bàng, bó hoa hồng đã biến thành một rổ cà chua trứng thối. Thật bẽ bàng cho cả người trao tặng lẫn người đưa tay đón nhận.

Dù có đúng như thế, tôi vẫn nghĩ đây là lỗi kỹ thuật trong sạch. Cả anh Châu Thạch và bác Nguyễn Bàng đều không có ác tâm, ác ý trong chuyện này. 

Thơ Nguyễn Khôi có độc đáo không?

Ông NNK trích lời ông Lê Mai, nghĩa là cả hai ông, đều cho rằng thơ NK không độc đáo. Nhưng trong phần chứng minh “nó có sức ma mị” ông viết:

            Thôi, mai em về Cửu Long giang cuộn sóng
            Nhớ sông Seine... thời khắc chẳng ngừng trôi 
            khung cửa hẹp 
            ôi thu, hừng sắc tím 
            tím cả hồn thơ thả mộng lên trời...
                 (Gửi em – Paris mùa thu tím)
Xưa nay chỉ thấy các thi sĩ nói về màu tím tình yêu, chứ còn nói “Paris mùa thu tím” thì đúng là chỉ có ở … Nguyễn Khôi. Như vậy ông NNK đã tự đưa bóng vào lưới nhà; với kết luận “Paris Mùa Thu Tím” thì đúng là chỉ có ở Nguyễn Khôi” – theo định nghĩa – ông đã xác nhận bài thơ ấy của NK là độc đáo. Và cái nhận xét “gộp” hơi cẩu thả của cả hai ông “Thơ Nguyễn Khôi không độc đáo. Không lạ. Không sang trọng” đã sai bét trong phần “độc đáo”. Mà đã độc đáo thì đương nhiên phải “lạ”, vì “độc đáo” là tinh trạng đặc biệt nhất, cao nhất của “lạ”.

Nhưng tranh luận về thơ ca không nên chỉ ngừng ở chỗ đúng sai, thắng bại (ở đây đối phương tự đá vào lưới nhà). Mục đích của phần này là trả lời câu hỏi “Thơ Nguyễn Khôi có độc đáo không? Cứ cho rằng, sau khi tra cứu khắp nơi, không có ai sử dụng hình ảnh “Paris Mùa Thu Tím” trong thơ. Chúng ta có thể tạm kết luận bài thơ Gửi Em – Paris Mùa Thu Tím là độc đáo. Nhưng từ chỗ NK có bài thơ Gửi Em - Paris Mùa Thu Tím độc đáo để đi đến kết luận thơ NK độc đáo thì đường còn xa thăm thẳm.

Thơ Nguyễn Khôi Có Sang Trọng Không?

Theo Châu Thạch thì:
Thơ Nguyễn Khôi có Sang trọng: Tiến sĩ Kiên dùng lời của nhà thơ Lê Mai viết ở trên: “Nhưng thơ Nguyễn Khôi cuốn hút rất nhiều người đọc. Từ nam phụ, lão ấu. Từ những vị ni cô, sư nữ ở chùa tận Bình Dương và Huế cho đến những phụ nữ có học vấn, học hàm học vị cao ở trường ĐH Quốc Gia” Toàn những người sang trọng yêu thơ Nguyễn Khôi. Vậy nếu thơ ông bình dân thì họ yêu được sao?

Rồi anh viết tiếp:

Với tôi thơ Nguyễn Khôi rất sang trọng. Sang trọng từ ý, từ tứ, từ từ và cả cách diễn đạt. Đọc thơ ông ta biết ngay đây là một tác giả trí thức có phong cách sang trọng, thanh tao. Một vài bài thơ ông có lời thơ rất dí dỏm nhưng bằng một phong cách thâm thúy, bác học trong sự dí dỏm đó.

Tôi đồng ý với anh ở phần sau. Phần đầu (chữ nghiêng), lý luận của anh có “lỗ hổng”.

Vế 1: Thơ Nguyễn Khôi sang trọng nên nhiều người sang trọng yêu thơ ông. Thực tế chứng minh là đúng.

Vế 2: Nhiều người sang trọng yêu thơ Nguyễn Khôi nên thơ Nguyễn Khôi sang trọng. Không nhất thiết phải như vậy! Anh nghĩ sao về trường hợp Nguyễn Bính? Thơ NB bình dị, dân dã nhưng cũng được khá đông người đọc thuộc tầng lớp trí thức (sang trọng) yêu mến.

Như vậy, nhận xét của anh về tính Sang Trọng của thơ Nguyễn Khôi là đúng. Nhưng lập luận để chứng minh, có một đoạn, theo tôi, có “lỗ hổng”, nên bỏ đi.

Tôi vừa về Việt Nam dự đám cưới đứa cháu gái. Thằng em út tôi, lái xe ôm ở bến xe An Sương, cũng sắm bộ đồ Vest để đi đám cưới. Bộ đồ may ở tiệm đàng hoàng, mặc rất vừa vặn. Nhưng trông dáng nó mặc Vest vẫn còn đậm nét nhà quê của người lao động. Nguyễn Khôi mà đóng bộ Vest vào thì trông oách ngay. Nét sang trọng đã thấm vào cốt cách của ông từ rất lâu. Đúng như Châu Thạch nói, NK đã dùng rất nhiều từ đời thường trong thơ của mình để nâng cao chức năng truyền thông, để cây cầu đến với độc giả rộng mở, nhưng đọc thơ ông chất trí thức, tính bác học, nét sang trọng vẫn hiện ra rất rõ. Trong trường hợp này nếu nói gộp lại‘Thơ Nguyễn Khôi sang trọng” vẫn có thể chấp nhận được.

Tắt Trăng

Tôi khoái phần phản biện của anh Châu Thạch về 2 chữ “tắt trăng”. Những gì tôi định viết thì anh đã đi trước nên giành hết rồi. Thực tế thì các nàng chọn đêm không trăng để ra tắm, nhưng nhà thơ của chúng ta giả vờ lẫn lộn “nhân vói quả”, làm như có bàn tay vô hình nào đó từ “bầu trời” vừa thấy các nàng liền “tắt trăng” để Ao Làng vẫn còn cái vẻ kín đáo e lệ của Á Đông.. Rất có duyên, rất nên thơ và rất đẹp. Tôi cũng đồng ý với anh về những lời “khá nặng” đối với “suy diễn” của nhà thơ Lê Mai. Chỉ có những người đầu óc điên loạn mới có cái lối liên tưởng bệnh hoạn, như vậy, đã biến một tứ thơ đẹp đẽ, thanh cao thành dung tục, dơ bẩn. Thêm nữa, với tôi, chữ “tắt” đắt như kim cương, không thể thay thế bằng bất kỳ chữ nào khác.

 

Về bài thơ Đêm Mộc Châu

          Đêm Mộc Châu lần đầu nghe nai “ tác”
         Dân đốt nương núi cháy xém vầng trăng
         Mới hay cuộc sống còn đói khát 
         Đốt cả đất trời kiếm miếng ăn

Ông NNK phán “Ở đây Nguyễn Khôi chắc cũng trong cơn ngái ngủ, mê sảng mà nghe thấy tiếng “nai tác”. Câu này hơi nặng, hơi độc nhưng theo tôi, nếu cảnh rừng đúng như ông Nguyễn Ngọc Kiên mô tả, thì câu đó vẫn chấp nhận được vì đúng quá. (Cảnh rừng không thể có tiếng “nai tác” mà NK tưởng tượng ra tiếng “nai tác” thì không ngái ngủ mê sảng thì là gi?)

Châu Thạch lấy trải nghiệm của chính mình xông lên biện hộ cho NK. Nhưng vẫn còn trong tình trạng cân bằng lực lượng. Tác giả thì dĩ nhiên, yên lặng nghe kẻ chỉ trích, người bênh vực, “sư bảo sư phải, vãi nói vãi hay.” Rất mong có ai đó có hiểu biết và trải nghiệm về “nai tác” nhập cuộc kẻo nhà thơ Nguyễn Khôi mang tiếng (có thể oan) là sáng tác thơ trong lúc ngái ngủ, mê sảng.

Sức Nặng Của Những Lời Phản Biện, Chỉ Trích

1/ “Ở đây Nguyễn Khôi chắc cũng trong cơn ngái ngủ, mê sảng mà nghe thấy tiếng “nai tác”(NNK)

2/ Theo tôi nếu có người đọc nào thấy chữ “tắt’ mà “liên tưởng đến chu kỳ của chị em phụ nữ” như nhà thơ Lê Mai đã nói thì người đó bị bệnh hoạn trong tâm thần, chưa chắc họ đã xem thơ mà ta cũng không cần đề cập tới những con người thô tục đọc thơ làm gì. (Châu Thạch)

3/ Chỉ có những người đầu óc điên loạn mới có cái lối liên tưởng bệnh hoạn như vậy, đã biến một tứ thơ đẹp đẽ, thanh cao thành dung tục, dơ bẩn. (PĐN)

4/ Đánh vào hạ bộ (PĐN)

Mặc dù cả 4 lời chỉ trích trên rất nặng nề (và có hơi “độc”) nhưng tôi tin rằng chúng vẫn có chỗ đứng trong Tranh Luận Văn Chương Nghiêm Túc.

Phạm Đức Nhì


 

 

 

 

 

 

 

Thứ Năm, 9 tháng 2, 2017

TRẢ LỜI BÁC NGUYỄN BÀNG


TRẢ LỜI BÁC NGUYỄN BÀNG

Ai cũng biết Đầu Xuân Thì Thầm Với Nhà Thơ Nguyễn Khôi là một bài bình thơ. Ở đây ông Nguyễn Ngọc Kiên không bình một bài thơ nào riêng biệt mà đưa ra nhận xét “gộp” cả một đời thơ của nhà thơ lão thành ở Hà Nội. Ông áp dụng phép Quy Nạp hơi cẩu thả nên có một vài sơ sót và đã được nhà phê bình Châu Thạch vạch ra từng điểm một. Tôi có ý định sẽ trao đổi với nhà phê bình Châu Thạch về các vấn đề cùng quan tâm ở bài viết kế tiếp.

Ở đây tôi chỉ xin trả lời bác Nguyễn Bàng 2 điểm:

1/ Bác Bàng viết:

Tôi không có một mẩu bằng Đại học nào chứ nói gì đến cả cái bằng Tiến sĩ Ngữ văn như ông Nguyễn Ngọc Kiên mặc dầu tôi biết ở xứ mình hiện nay sản xuất tiến sĩ như gà đẻ: Mỗi ngày một ‘tiến sĩ’.

Và tôi đã lên tiếng: “Trước hết, bác Nguyễn Bàng không nên “xách mé” cái bằng Tiến Sĩ Ngữ Văn của ông NNK như thế,” Chữ “xách mé” ở đây tôi dùng với nghĩa châm biếm, chửi xéo, thiếu lịch sự. Nếu đọc cái đoạn in nghiêng ở trên mà bác Nguyễn Bàng không nhận ra là mình đã châm biếm, đã chửi xéo, đã thiếu lịch sự với ông Nguyễn Ngọc Kiên thì tôi đành chịu thua, để bác muốn chửi sao thì chửi.

 2/ Ông Nguyễn Ngọc Kiên viết Đầu Xuân Thì Thầm Với Nhà Thơ Nguyễn Khôi là để có cái tựa văn vẻ một tý, chứ thực tế thì ông chỉ muốn bình thơ Nguyễn Khôi thôi. Và dĩ nhiên vì là bình thơ nên ông viết để “nói cho cả bàn dân thiên hạ được nghe thấy”. Cũng may nhà thơ Nguyễn Khôi hiểu được ngụ ý của ông NNK nên không vểnh tai lên để chờ nghe lời Thì Thầm, chứ nếu cứ hiếu như bác Nguyễn Bàng thì chắc là rất mỏi lưng và mỏi cổ.

Rồi bác Nguyễn Bàng kết thúc thư của mình bằng đoạn “… xin ông (Nguyễn Ngọc Kiên) hãy nhớ cho, ông còn trẻ hơn nhà thơ Nguyễn Khôi rất nhiều và ông đã là Tiến sĩ Ngữ Văn chắc ông thừa biết câu “Hãy kính trọng người già khi bạn còn trẻ”. Nếu còn thì thầm với nhà thơ lão thành Nguyễn Khôi, xin ông Nên hãy (thì) thầm những lời đúng và đẹp như hoa Xuân thì hay hơn, ông Tiến sĩ Ngữ Văn à!”

Bác Nguyễn Bàng đã đem tuổi già ra làm con ngoáo ộp đe nẹt ông NNK (và những người yêu thơ trẻ tuổi khác) nên tôi đã lên tiếng: “Xin đừng bắt ông ta vì câu “Hãy kính trọng người già khi bạn còn trẻ” mà phải thì thầm vào tai nhà thơ lão thành Nguyễn Khôi những lời “đẹp như hoa xuân” khi tâm ý của ông không muốn như vậy. Thi sĩ nếu muốn được nghe những lời “đẹp như hoa xuân” của người phê bình thì phải thai nghén, phải ủ tứ thơ cho chín, cho lên men, rồi chờ lúc cao hứng dùng kỹ thuật thơ điêu luyện của mình viết lên những vần thơ dạt dào cảm xúc. Xin đừng mang tuổi già ra hù dọa lớp trẻ để làm thui chột tính công bằng của việc phê bình.”

Xin được giải thích thêm một tý cho rõ ràng.

Ở Mỹ tôi đã có cơ hội theo dõi và tham dự (cả với tư cách cử tri và ủng hộ viên) nhiều cuộc bầu cử ở mọi cấp chính quyền. Ai cũng muốn các ứng cử viên bày tỏ lập trường, chính sách của mình (về các vấn đề dân chúng quan tâm) để cử tri cân nhắc, lựa chọn khi đi bầu. Nhưng không phải cuộc bầu cử nào cũng có môi trường chính trị trong sạch như thế. Rất nhiều ban vận động tranh cử (tôi biết một vài ban như thế) có hẳn một nhóm người (group) chuyên đào bới, moi móc đời tư của ứng cử viên đối phương, nhiều khi không từ cả gia đình, họ hàng của ông (bà) ta nữa, để tìm ra những “điều không tốt” rồi “xì” ra cho báo chí, truyền thông để hạ uy tín đối thủ của mình. Đây là phương cách vận động bầu cử bá đạo bị nhiều người lên án.

Trong môi trường tranh luận văn chương cũng có một số trường hợp tương tự như vậy mà thư của bác Nguyễn Bàng gởi ông NNK là một thí dụ điển hình. Thay vì mổ xẻ những điểm chính của cuộc đối thoại văn chương là:

1/ Ông NNK trích lời nhà thơ Lê Mai cho rằng “Thơ Nguyễn Khôi không độc đáo. Không lạ. Không sang trọng.

2/ Nó có sức ma mị.

3/ Nhóm chữ “tắt trăng” trong đoạn thơ:

        Vượt biển, chơi hồ, trở quá giang
            Bỗng dưng lại thấy nhớ ao làng
            Cái đêm hè ấy ai ra tắm
            Để cả bầu trời phải tắt trăng.



4/Nhóm chữ “nai tác” trong bài thơ Đêm Mộc Châu

      Đêm Mộc Châu lần đầu nghe nai “ tác”
         Dân đốt nương núi cháy xém vầng trăng
         Mới hay cuộc sống còn đói khát 
         Đốt cả đất trời kiếm miếng ăn

thì bác Nguyễn Bàng lại:

1/ Ngay ở phần mở đầu đã xách mé (châm biếm, chửi xéo) cái bằng Tiến Sĩ Ngữ Văn của ông NNK.

2/ Ở đoạn kết của lá thư đã đem Tuổi Già ra để đe nẹt, hù dọa ông NNK (vì ông còn trẻ) và dĩ nhiên, làm hoảng sợ nhiều người yêu thơ trẻ tuổi khác. Hậu quả là làm không khí tranh luận không còn thoải mái, cởi mở và làm thui chột tính công bằng của việc phê bình.

Hai đoạn ấy chỉ nhằm bới móc, nói xấu để hạ uy tín ông NNK chứ không ăn nhập gì đến đối tượng đang tranh luận mà nhà phê bình Châu Thạch đã phân tích cặn kẽ từng điểm một.

Tôi bỗng nhớ đến một điều luật trong môn Quyền Anh (Boxing): Khộng được đánh dưới thắt lưng.  Theo luật thi đấu võ đài, võ sĩ bị cấm ngặt, không được phép ra đòn dưới thắt lưng, tức đánh dưới háng. Dù vô tình hay cố ý, ai phạm luật sẽ bị trọng tài phạt cảnh cáo hay bị loại thi đấu tùy theo mức độ nặng nhẹ hay tái phạm và bị xem là kẻ chơi xấu.


Võ sĩ Nguyễn Bàng rất hùng dũng bước lên võ đài để so găng với võ sĩ Nguyễn Ngọc Kiên và ngay những giây phút đầu tiên đã “chơi” một cú rất mạnh vào hạ bộ đối thủ. Sau đó ông mượn lời cô Dương Đình Ninh múa mấy đường quyền (theo đúng luật Quyền Anh "cao thượng") một hồi lâu rồi bất ngờ tung một cú đấm như trời giáng cũng vào ngay “bộ đồ lòng” của vỏ sĩ NNK một lần nữa rồi mỉm cười đắc thắng. Tôi là một khán giả đến xem cuộc tỷ thí, thấy chuyện bất bình tri hô lên “Chơi Xấu! Chơi Xấu!” thì bị võ sĩ Nguyễn Bàng “sửng cồ”, dùng lời lẽ rất đẹp mắng như tát nước.

Bị mắng, mà lại bị mắng oan, kể cũng hơi tức. Nhưng tôi lại thấy vui vui vì đã có thêm cơ hội trao đổi với các bác trên diễn đàn này về Phong Cách Bình Thơ. Tôi biết rằng, đang nóng giận, không dễ gì bác Nguyễn Bàng nhận ra tâm ý của tôi qua bài viết ngắn này. Nhưng cứ “tận nhân lực” trước đã. Hơn nữa, còn rất nhiều khán giả cùng xem võ đài như tôi, chẳng lẽ không ai thấy võ sĩ Nguyễn Bàng “Chơi Xấu”? Mà lại “Chơi Xấu” đến hai lần?

Phạm Đức Nhì

nhidpham@gmail.com

 

 

 

Thứ Ba, 31 tháng 1, 2017

ĐOẠN KẾT CỦA BÀI THƠ NGỌN CỎ


                    ĐOẠN KẾT CỦA BÀI THƠ NGỌN CỎ

 Ngọn Cỏ

 
Tiếng nước đái

nhỏ giọt

trong bồn cầu tí tách

thứ nước ấm sóng sánh vàng

hổ phách

trong người tôi tuôn ra

 

Phải rồi

tôi là đàn bà

hạng đàn bà đái không qua ngọn cỏ

bây giờ

được ngồi rồi trên bồn cầu chễm chệ

tương lai không chừng tôi sẽ

to con mập phệ

tí tách như mưa

ngọn cỏ gió đùa.

(Nguyễn Hoàng Bắc)


Đang muốn biểu lộ thái độ hùng dũng, vùng lên “đứng đái đàng hoàng”  như các đấng nam nhi mà lại kết thúc bằng “ngọn cỏ gió đùa” - chấp nhận thân phận đàn bà như ngọn cỏ, gió muốn đùa hướng nào cũng phải chịu -  thì đúng là cung đàn lạc điệu. Nguyễn Đúc Tùng vì đang phỏng vấn Nguyễn Thị Hoàng Bắc nên chỉ lịch sự cho rằng câu cuối bài thơ gây cảm giác mơ hồ (ambiguous).

Nguyễn Thị Hoàng Bắc sau đó bật mí:

 Nếu tường minh hàm ý mấy chữ ấy bằng ngôn ngữ bình thường thì đại khái có thể diễn đạt là “ngọn cỏ gió đùa? xin lỗi nghen!” hoặc “ngọn cỏ gió đùa? không dám đâu!”

Ô! Thật lạ! Chị viết “ngọn cỏ gió đùa” mà lại muốn người đọc hiểu là “ngọn cỏ gió đùa? không dám  đâu!”, nghĩa hoàn toàn trái ngược, thì đúng là làm khó người đọc quá.

Với tôi, đây là bài thơ hay. Hay về ý tứ táo bạo, hay về hình thức mới mẻ, hay về thế trận chữ nghĩa chặt chẽ. Chỉ tiếc câu cuối “ngọn cỏ gió đùa” lạc quẻ, trật bàn đạp, làm hỏng bài thơ.

Phạm Đức Nhì

nhidpham@gmail.com

 

Thứ Bảy, 19 tháng 11, 2016

BA BÀI THƠ VỀ THƠ


BA BÀI THƠ VỀ THƠ

(Nói chuyện thơ bằng ngôn ngữ tình dục)

Coi Chừng Lầm To   

Thái tử Charles ôm công nương Diana

trên chiếc giường nệm êm ái (1)

Chí Phèo làng Vũ Đại (2)

chẳng cần giường

mà đè Thị Nở ngay bên gốc chuối


Nếu chỉ dựa vào độ mới của chiếc giường

để đoán cô gái nào sướng hơn

có khi bạn lầm to.

 
1/ Trong nhật ký của mình công nương

 Diana chê thái tử Charles “yêu”  không đã.

2/ Chí Phèo (Nam Cao) thì ngược lại.

Lời Bàn:
Không phải cứ làm thơ theo trào lưu văn học mới

là thơ hay hơn, có giá trị hơn. Thơ hay còn tùy thuộc

vào những yếu tố khác.

 

      CHO  THÊM  CỦI

 
Nhiều đấng nam tử

muốn trèo lên đỉnh vu sơn

nhưng “lực bất tòng tâm”

chỉ mới vài bước

đã khuỵu gối giơ tay bỏ cuộc

tội nghiệp người bạn đường

bẽ bàng

thất vọng

 
Có những bài thơ

như cái bếp lò

chỉ loe ngoe vài thanh củi mỏng

nồi trên bếp chưa kịp nóng

lửa đã tàn

còn mong gì gạo biến thành cơm

 
Căn bệnh của quý ông

“chưa đi đến chợ đã hết tiền”

chữa trị có lắm phương nhiều cách

ăn uống bồi bổ, thuốc men …  

riêng những bài thơ như bếp lửa tàn

cách tốt nhất là …. cho thêm củi.

Lời Bàn:

Rõ ràng quá rồi, đâu cần bàn bạc thêm gì nữa.

 
MỘT KIỂU LÀM MỚI THƠ

Người phụ nữ da trắng hồng

còn rất trẻ

chân dài, mông to

eo thon, vai rộng

lõa lồ giữa khu rừng vắng

đang ôm siết một thân cây

miệng phát ra tiếng rên

như con chó điên

đang kỳ động đực

 
Chị đang làm gì thế?

tôi hỏi

“Ta đang làm thơ

làm thơ cũng như làm tình

hãy chống mắt mà xem

ngày mai

giữa đám thơ cũ mèm

như cỏ rác

sẽ xuất hiện

những vần thơ tuyệt tác.”

Lời Bàn:

Tôi rất coi trọng nỗ lực làm mới thơ và rất quý mến những nhà thơ xông xáo vào những vùng đất chưa khai phá để tìm những cây mới, hoa lạ cho vườn thơ. Nếu ví làm thơ cũng như làm tình thì làm tình một cách quái đản như người phụ nữ ở trên sẽ chỉ đẻ ra những bài thơ quái thai. Làm mới thơ kiểu đó thì … vượt quá khả năng cảm nhận của tôi..



Galveston, Texas 05/2015

Phạm Đức Nhì


 

 

 

 

 

Chủ Nhật, 13 tháng 11, 2016

HÃY ĐẾN VỚI VĂN CHƯƠNG BẰNG TẤM LÒNG NHÂN ÁI


                   HÃY ĐẾN VỚI VĂN CHƯƠNG TẤM LÒNG NHÂN ÁI

Sau khi đọc Văn Chương Không Phải Là Đơn Thuốc trên Facebook ông Lang Truong đã có comment như sau:
Có vẻ như ông thích leo lên, ngồi trên đầu các tượng đài, để thiên hạ tưởng mình cao. Có vẻ như, theo ông, nghệ thuật là phải bê nguyên cuộc sống lên sân khấu ; một kiểu " nghệ thuật vị nhân sinh ", luận điệu này nghe quen quá, rất buồn... nôn!
Bởi theo cách cảm nhận nghệ thuật mà ông bày tỏ, thì ca tử của Trịnh Công Sơn cũng phải vứt vào sọt rác :
" Gọi nắng, cho vai em gầy,đường xưa áo bay "
"Mưa vẫn mưa bay, trên tầng tháp cổ. Dài tay em mấy thủơ mắt xanh xao"
Nghệ thuật không phải miêu tả cảm xúc, mà là gợi lên những cảm xúc, ông ạ.
Những gì tri thức không hiểu, hãy để vô thức cảm nhận. Lý trí và trái tim không phải lúc nào cũng dùng chung một ngôn ngữ.
Đừng tự biến mình thành một tên đồ tể văn chương. Trước khi xuống dao mổ xẻ tâm hồn người khác, hãy làm tốt hơn họ đã.
Mong rằng có ngày, thi phẩm của ông sẽ được xuất hiện trong giáo khoa, dùng để giảng dạy cho cả thế hệ, như của Thanh Tâm.


Và Phạm Đức Nhì trả lời:

                         Hãy Đến Với Văn Chương Bằng Tấm Lòng Nhân Ái

 Trước hết xin cám ơn ông Lang Truong đã dành thời gian đọc kỹ bài viết Văn Chương Đâu Phải Là Đơn Thuốc của tôi để viết một cmt khá dài. Ông LT với tôi chưa có cơ hội biết nhau nên chắc đâu có gì mâu thuẫn. Bởi thế đọc cmt nặng lời của ông tôi thấy hơi lạ. Khác biệt quan điểm trong tranh luận văn chương là chuyện thường; xưa nay rất ít người vì thế mà hằn học với nhau, nhất là giữa chốn đông người. Nhưng điều đó đã là một thực tế nên xin phép được trả lời ông từng điểm một cho vấn đề được sáng tỏ.

1/ Ông viết về  tôi“Có vẻ như ông thích leo lên, ngồi lên đầu các tượng đài, để thiên hạ tưởng mình cao”

Trong bài Văn Chương Không Phải Là Đơn Thuốc tôi có đề cập đến tượng đài ở đoạn sau:

“Theo ngôn ngữ của ông LML thì mỗi người yêu thơ đều có một tượng đài trong tim cho mỗi bài thơ mình yêu thích. Tùy cách hiểu và đánh giá của mỗi người tượng đài ấy lớn nhỏ khác nhau.

       Có người đọc thơ để thưởng thức, có người đọc để phê bình. Tôi thuộc loại người thứ hai nên những điều ông LML trách tôi cũng có phần đúng. Tôi đã dùng đủ loại dụng cụ ông nói ở trên để đục đẽo hầu có được một tượng đài – mà theo tôi - đúng với kích cỡ của TBH. Tôi không có khả năng trục tượng đài ra khỏi trái tim của người yêu thơ để đưa vào chỗ ấy một tượng đài khác. Tôi chỉ ước mong những bài viết của mình đủ thuyết phục để có được một vài người yêu thơ tự làm công việc thay thế đó trong tim họ.”

Ông Lang Trương hãy chỉ cho độc giả thấy tôi “thích leo lên, ngồi lên đầu các tượng đài” ở chỗ nào? Xin đừng suy diễn tùy tiện mà nói điều không có cho tôi

2/ “Có vẻ như, theo ông, nghệ thuật là phải bê nguyên cuộc sống lên sân khấu ; một kiểu ‘ nghệ thuật vị nhân sinh’, luận điệu này nghe quen quá, rất buồn... nôn!”

 Không phải tôi, mà chính Thâm Tâm đã tạo ra khung cảnh cuộc đưa tiễn trong Tống Biệt Hành, biến bài thơ thành một sân khấu cuộc đời. Mấy trăm năm trước Nguyễn Du cũng làm như thế với truyện Kiều. Có điều trong truyện Kiều các nhân vật đều tự nói lên suy nghĩ hay tâm trạng của mình. Còn trong TBH

 “người đưa tiễn cứ như có bùa phép, thấy được cả những chi tiết nhỏ nhặt trong đầu người ra đi. Thử hỏi độc giả liệu có tin được ‘chân tình’ của tác giả không?” Cái “không khéo” của Thâm Tâm là ở chỗ ấy, và tôi - với cương vị một người phê bình- đã “chê” TBH ở điểm ấy. Nếu ông Lang Truong thấy “rất … buồn nôn” thì cứ việc phê phán luận điểm của tôi bằng lý lẽ và dẫn chứng. Cớ sao lại đem “nghệ thuật vị nhân sinh” ra bêu riếu? Đó không phải là cách tranh luận văn chương nghiêm túc, và hơn nữa, rất bất công với các triết gia đã nghĩ ra và lập nên thuyết NTVNS.

3/ “Bởi theo cách cảm nhận nghệ thuật mà ông bày tỏ, thì ca tử của Trịnh Công Sơn cũng phải vứt vào sọt rác”

Tôi chỉ đồng ý với Nguyên Đình Thi khi trích lời một nhà văn Pháp “Nhà thơ bao giờ cũng là ngôi thứ nhất” mà ông nỡ gán cho tôi cái tội vứt ca từ của Trịnh Công Sơn vào sọt rác thì ông quả là quá nóng nên lại nói oan cho tôi một lần nữa rồi đấy.

4/ “Nghệ thuật không phải miêu tả cảm xúc, mà là gợi lên những cảm xúc, ông ạ.
Những gì tri thức không hiểu, hãy để vô thức cảm nhận”

Tôi không đủ kiến thức để bàn đến những môn nghệ thuật khác. Riêng với thơ, tôi cho rằng “làm thơ để biểu lộ cảm xúc của mình và khơi gợi cảm xúc nơi người thưởng ngoạn.” Người thưởng ngoạn thơ sành điệu, khi đọc một bài thơ, phải “bắt” được tứ thơ, thấy được cái hay, cái dở của kỹ thuật thơ (đó là phần việc của lý trí) và sau cùng mới “lấy hồn ta để hiểu hồn người”. Nếu không “bắt” được tứ thơ và hiểu kỹ thuật thơ mà đòi “lấy hồn ta để hiểu hồn người” thì chỉ là cách đọc thơ  kiểu “nghe hơi bắc nồi chõ” của những kẻ “ngu si hưởng thái bình”, rất đáng thương. Đời sinh ra cái nghề bình thơ để giúp những người “rất đáng thương” ấy

 

5/ “Đừng tự biến mình thành một tên đồ tể văn chương. Trước khi xuống dao mổ xẻ tâm hồn người khác, hãy làm tốt hơn họ đã. Mong rằng có ngày, thi phẩm của ông sẽ được xuất hiện trong giáo khoa, dùng để giảng dạy cho cả thế hệ, như của Thanh Tâm.”

Tôi chỉ mổ xẻ bài thơ rồi sau đó “lấy hồn mình để hiểu hồn tác giả”. Câu nói của ông LT “Trước khi xuống dao mổ xẻ tâm hồn người khác, hãy làm tốt hơn họ đã. Mong rằng có ngày, thi phẩm của ông sẽ được xuất hiện trong giáo khoa, dùng để giảng dạy cho cả thế hệ, như của Thanh Tâm“ là lý luận của một đứa trẻ ngây thơ; người lớn, hiểu biết không ai nói như thế, ông ạ. Nếu đòi “phải có thơ in trong sách giáo khoa thì mới được bình thơ” thì theo tôi, vô số những nhà phê bình trên thế giới (trong đó có rất nhiều người nổi tiếng) đã phải treo bút. Những câu nói “không lường hết hậu quả” như của ông LT không nên có trong một cuộc tranh luận văn chương.

6/ Có lẽ chỉ là một lỗi typo, nhưng xin nhắc ông Lang Truong, tác giả của TBH là Thâm Tâm chứ không phải Thanh Tâm.

7/ Tôi có một bài tổng hợp Tống Biệt Hành - Lời Bình Và Tranh Luận ở cái link dưới đây. Nếu ông Lang Trương muốn trao đổi thêm, tôi rất sẵn sàng thù tiếp. (Nhưng xin chọn sân chơi khác)  http://phamnhibinhtho.blogspot.com/2016/07/tong-biet-hanh-loi-binh-va-tranh-luan.html

Tôi biết cách bình thơ của mình không giống lối bình thơ ve vuốt trước đây bởi tôi nghĩ rằng thấy khuyết điểm của bài thơ mà người bình không nói ra là thiếu lương thiện trong văn chương. Tôi đã có nhiều cuộc trao đổi về TBH – có nhiều ý kiến khác biệt - nhưng không ai hằn học và nặng lời như ông. Tôi nghĩ rằng đến với văn chương bằng tấm lòng nhân ái sẽ giúp không khí hòa nhã và việc khám phá cái hay, cái đẹp của văn chương được kết quả hơn.

Một lần nữa xin cám ơn ông và chúc ông luôn vui khỏe.

Riêng trường hợp bạn Tadeo Truong - người bình luận ké – xin vui lòng đọc bài này. Tôi sẽ không trả lời riêng.

Phạm Đức Nhì


phamnhibinhtho.blogspot.com