Thứ Tư, 19 tháng 9, 2018

TRAO ĐỔI VỀ "BÀI THƠ" ĐỒNG DAO CHO NGƯỜI LỚN


                               
                                    (Phần 1)

                 

Sau khi đăng bài viết Về “Bài Thơ” Đồng Dao Cho Người Lớn của tôi trên trang web văn học Vũ Nho Ninh Bình, bác Vũ Nho (PGS/ TS) - chủ trang web - đã vìết một bình luận ngay dưới bài viết.

Nếu độc giả chưa đọc bài Về “Bài Thơ” Đồng Dao Cho Người Lớn có thể đọc theo link sau đây:

Bình Luận Của TS Vũ Nho:

Đây là ý kiến cá nhân của tác giả Phạm Đức Nhì!

Về định nghĩa thể loại thì Nguyễn Trọng Tạo gọi đây là đồng dao (Đồng là trẻ em, dao là bài hát không thành chương khúc. Đồng dao là bài hát trẻ con) Nhưng ở đây là đồng dao cho người lớn. Nguyễn Trọng Tạo chỉ "mượn" hình thức đồng dao thôi. Cũng không nên căn cứ vào tuyên bố của tác giả để quyết rằng đồng dao là một loại VÈ như Phạm Đức Nhì đã làm. Cũng không thể nói rằng VÈ thì kém THƠ. Vè là một thể loại văn học dân gian. Một bài VÈ Hay thì quý gấp nhiều lần một bài THƠ Dở. Đó là điều không thể phản bác. Nhưng "Đồng dao cho người lớn" có phải là VÈ không thì câu chuyện không đơn giản. Những bài đồng dao, hay vè, yếu tố cá nhân, cái tôi của tác giả hầu như khá mờ nhạt. Ngay cả khi kể vè : "Ve vẻ vè ve, lặng nghe tôi kể... thì cái "tôi" ấy cũng không có nét riêng. Thường thì dân gian bắt đầu : "Ve vẻ vè ve, cái về thằng Nhác...".

Bài “đồng dao cho người lớn” thể hiện CÁI TÔI của tác giả rất rõ. Chỉ hai câu đầu thôi, đã thấy cảm xúc mạnh mẽ của tác giả về sự SỐNG Và CHẾT. Tại sao anh Nhì lại thấy rằng những dòng này "không có tâm hồn và cảm xúc" nhỉ? Đó là chuyện riêng của anh. Riêng câu nhận xét của chị KIm Phương rằng bài đó "khô" cho nên hoài nghi không biết có phải thơ không thì...thật là phiến diện. Có thơ trữ tình, có thơ trí tuệ, có thơ văn xuôi...sao cứ phải "ướt" hay "không khô" mới là THƠ?

Chẳng ai được giao trách nhiệm canh giữ vườn thơ cả. Là thơ hay không thơ là do người đọc cảm nhận. Là THƠ hay hoặc THƠ dở cũng do cách đánh giá riêng của mỗi người. Cứ việc bàn luận. Nhưng chớ nghĩ rằng mọi người sao... lơ mơ thế, chỉ có ý kiến mình là đúng đắn thôi. Tôi muốn nhắn anh Phạm Đức Nhì mấy lời và dù khác ý kiến của anh, tôi vẫn tôn trọng đưa bài viết này!


Phạm Đức Nhì:


Tôi đã đọc bình luận của bác dưới bài viết và thấy rằng nhìn nhận và đánh giá của bác và tôi về bài ĐDCNL của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo, quả thật, có khác nhau. Xin phép được làm rõ vài điểm trong bình luận của bác.

1/ Xét về mặt hình thức, ĐDCNL có phải là Vè không? 

Theo Đỗ Trọng Khơi, “Đồng Dao của Nguyễn Trọng Tạo viết ở nhịp 8 chữ nhưng soi chẻ rạch ròi vẫn thấy cái dư khí của hồn bốn chữ dân gian”. Tôi đồng ý với anh ở điểm này. Cho nên ĐDCNL – đúng như cái tựa của nó – là một bài đồng dao (biến thể). Mà đồng dao, theo đoạn trích trong Wikipedia Tiếng Việt ở trong bài viết của tôi, là một loại vè. Chính vì thế, theo tôi, khi chọn cái tựa ấy, về mặt hình thức, tác giả đã vô tình tự xếp loại nó là vè. 

Tuy nhiên, để khỏi lầm trường hợp mà theo bác, “Nguyễn Trọng Tạo chỉ ‘mượn’ hình thức đồng dao thôi” nên tôi phải nhìn vào nội dung. Nếu nó có cảm xúc từ cái tôi riêng tư của tác giả thì đúng là một bài thơ mượn hình thức đồng dao. Nếu nó tuyệt nhiên không có một tý ty cảm xúc của “cái tôi riêng tư” thì trong trường hợp này, vì đã có hình thức đồng dao, nó sẽ là bài Vè. Tôi sẽ bàn về điểm này ở phần số 4.

2/ Cũng không thể nói rằng VÈ thì kém THƠ. Vè là một thể loại văn học dân gian. Một bài VÈ Hay thì quý gấp nhiều lần một bài THƠ Dở. Đó là điều không thể phản bác. 


Tôi đã gặp một y tá già, giầu kinh nghiệm lại mát tay nên chạy rong chữa bệnh cho bà con trong thôn xóm được nhiều người thích. Có người phát biểu: “Y tá mà như ông M. thì còn hơn mấy anh bác sĩ mới ra trường”. Nói thì nói thế chứ đi vào thực tế thì y tá và bác sĩ ở hai đẳng cấp khác nhau, cao thấp cách nhau một trời một vực. Chẳng ai là y tá mà dám coi mình ngang hàng với bác sĩ. Làm thế người ta cười chết. Phòng tổ chức của một đơn vị y tế cũng không dám bổ nhiệm một y tá vào cương vị của bác sĩ. Làm thế là sai luật, trái nguyên tắc.

Vè với Thơ cũng thế. Vè là Vè, Thơ là Thơ. Hai loại ở hai đẳng cấp riêng biệt, cao thấp khác nhau. Tôi có thằng bạn nói đùa về thơ một thằng bạn khác “Thơ của mày cứ như Vè ấy”. Thằng làm thơ coi đó là điều sỉ nhục, và hai đứa giận nhau rất lâu. Hồi mới bập bẹ làm thơ, thầy giáo môn Việt Văn của tôi thường nhắc “Khéo đấy! Coi chừng thơ thành vè thì tổ làm trò cười cho thiên hạ.”

Vì thế tôi cho rằng y tá có kinh nghiệm cách mấy cũng cũng không thể vỗ ngực coi mình ngang hàng với bác sĩ; và Vè rõ ràng không thể cùng đẳng cấp với Thơ.


3/ Bác Vũ Nho viết: “Những bài đồng dao, hay vè, yếu tố cá nhân, cái tôi của tác giả hầu như khá mờ nhạt”. 

Theo tôi, nếu đúng là đồng dao thì cái tôi riêng tư của tác giả không phải là “hầu như khá mờ nhạt” mà hoàn toàn vắng bóng. Bởi chỉ cần một tý tẹo teo cái tôi riêng tư thì nó đã không còn là vè nữa mà được nâng cấp thành thơ. 

4/ Bài đồng dao cho người lớn thể hiện CÁI TÔI của tác giả rất rõ. Chỉ hai câu đầu thôi, đã thấy cảm xúc mạnh mẽ của tác giả về sự SỐNG Và CHẾT. 

Trong câu thơ của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo: 

Có cánh rừng chết vẫn xanh trong tôi” 

chữ “tôi” nằm sờ sờ ra đó nên rất dễ hiểu lầm là “cái tôi” của tác giả đã có mặt trong câu thơ. 

Có hai điểm cần lưu ý trong “câu thơ” này: 

     a/ Cụm từ “Có cánh rừng chết” nói chung chung, không cụ thể, không nói rõ “cánh đồng chết” nào nên chỉ là một hình tượng đã lôi ra từ trong ký ức, là sản phẩm của lý trí chứ không phải cảnh thơ. Nếu có một đoạn trước đó nói về “cánh rừng chết” và ở đây dùng cụm từ “Cánh rừng chết ấy” thì chúng ta đã có cảnh thơ. Thí dụ như đoạn thơ dưới đây: 

Cánh rừng sát bên Xóm Đạo
sau những đợt mưa bom, mưa pháo
đã thành cánh rừng chết
với người đời
nhưng trong tôi
vẫn tươi mát một màu xanh.

“Cánh rừng chết” đã là cảnh thơ nên 2 câu thơ cuối:

nhưng trong tôi
vẫn tươi mát một màu xanh


đã là tâm tình của cái tôi riêng tư (tác giả), ít nhiều đã có cảm xúc và đã xứng đáng được gọi là thơ. (Hay dở chưa bàn đến). 

     b/ Sự xuất hiện của chữ “Có” đã khiến chữ “tôi” trở thành nhân vật trong “câu kể” của tác giả chứ không phải chính tác giả - người đang sáng tác thơ. Thi sĩ Nguyễn Trọng Tạo ở đây phải đóng 2 vai. Một, là nhân vật “tôi” trong “câu kể”, đã xuất hiện trong quá khứ và đã trốn trong ký ức, giờ bị lôi ra trình làng. Hai, là người bằng xương bằng thịt đang ngồi cầm bút làm thơ. 

Kết quả là câu “Có cánh rừng chết vẫn xanh trong tôi” chỉ là hình tượng được lội ra từ ký ức, không có cái tôi riêng tư của tác giả dự phần nên không có cảm xúc và không phải là thơ. 

Bài ĐDCNL chỉ có câu đầu dễ hiểu lầm là thơ, còn lại những câu khác đều là những “câu kể” phát xuất từ bề mặt ý thức, rất dễ nhận ra. Sau khi đã chấp nhận phần giải thích lý do tại sao câu đầu không phải là thơ, độc giả có thể tự kết luận cả bài không phải là thơ. ĐDCNL có hình thức là đồng dao - một loại Vè – nên nó là một bài Vè.

5/ Riêng câu nhận xét của chị KIm Phương rằng bài đó "khô" cho nên hoài nghi không biết có phải thơ không thì...thật là phiến diện. Có thơ trữ tình, có thơ trí tuệ, có thơ văn xuôi...sao cứ phải "ướt" hay "không khô" mới là THƠ? 


Theo tôi hiểu, chị Kim Phượng nói “khô” với nghĩa không có tý cảm xúc riêng tư nào của tác giả. Thơ trữ tình thì không nói làm gì, còn thơ trí tuệ, thơ văn xuôi hay thơ … gì gì nữa cũng phải có cảm xúc riêng tư của tác giả thì mới gọi là thơ. Chứ “khô queo” thì nếu không là vè thì cũng là thứ dị chủng, khác loại với thơ. 

6/ Bàn thêm về câu thơ “sinh tình”

ĐÀN BÀ 

Có hai loại đàn bà 
loại chính chuyên chung thủy với chồng 

Loại không lấy chồng
suốt đời đến với đàn ông 
chỉ để thỏa mãn nhu cầu xác thịt 
tìm vui trong chốc lát.

Sáu câu trên chỉ là cách nhìn của tác giả về đàn bà, đến từ bề mặt ý thức, chưa phải là thơ. Nhưng chỉ cần thêm câu sau đây:

Tôi thích loại đàn bà thứ hai 

thì đã có cảm xúc, tình đã xuất hiện, cả bài đã trở thành thơ. Câu “Tôi thích loại đàn bà thứ hai” là câu thơ sinh tình. 

Bài ĐDCNL, tôi trộm nghĩ, do cấu trúc của đồng dao “không thành chương khúc” nên khó đưa vào một câu thơ sinh tình thích hợp. 

Kết Luận 

Với tôi, trang web Vũ Nho Ninh Bình của bác là một trang văn học đứng đắn. Tôi rất thích câu chào “Đây là quán tha hồ muôn khách đến!” Cám ơn bác đã cho tôi hân hạnh có một số bài được đăng ở đấy. Phần cuối của bình luận về bài viết bác đã nhắn “dù khác ý kiến với anh tôi vẫn tôn trọng đưa bài viết này”. Đó là thái độ người lớn, công tâm trong giao lưu văn học. 


Với nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo, tôi một lòng kính trọng ở tài năng và uy tín của ông. Mặc dù chưa trực tiếp trò chuyện, tôi đã “gặp” ông nhiều lần trong những Ngày Thơ Nguyên Tiêu ở Văn Miếu Quốc Tử Giám. Nhận xét về tính thơ của bài ĐDCNL của ông tôi đâu dám giỡn chơi. Tôi đã tra cứu, vận dụng kiến thức của mình về thơ ca và viết rất cẩn trọng. 

Bình luận của bác đã cho tôi cơ hội nhìn lại bài viết của mình một cách kỹ càng hơn để trả lời những chất vấn của bác. Tôi tin ở những điều mình viết, nhưng với đề tài liên quan đến lý thuyết thơ, ai dám chắc là mình không sai sót? Ai dám chắc là mình được sự đồng thuận của mọi người? Tôi sẵn sàng đón nhận những phê bình, góp ý của bác và của những độc giả khác. 

Một lần nữa, xin chân thành cảm ơn bác.



                    TRAO ĐỔI VỀ “BÀI THƠ” ĐỒNG DAO CHO NGƯỜI LỚN

                                                  (Phần 2)

Sau đó trên trang Vũ Nho Ninh Bình TS Vũ Nho viết mấy lời giới thiệu rồi gom những trao đổi giữa ông và tôi thành một bài mới với cái tựa Thảo Luận Bài ĐỒNG DAO CHO NGƯỜI LỚN Của Nguyễn Trọng Tạo. Dưới đây là lời giới thiệu:

vunhonb.blospot.com  Sau khi chúng tôi đưa lên trang bài của tác giả Phạm Đức Nhì về bài " Đồng dao cho người lớn" của Nguyễn Trọng Tạo, (ngày 14 tháng Bảy năm 2018) kèm nhận xét ở phần cuối; tác giả Phạm Đức Nhì đã có phản hồi trao đổi lại. Tôi nghĩ đây là vấn đề lí thú nên đưa lên đây như là một chủ đề, mời mọi người cùng đọc và trao đổi.

Và TS Vũ Nho viết bình luận tiếp theo:

Cám ơn anh Phạm Đức Nhì đã hồi âm về nhận xét của tôi!

Việc tranh luận học thuật là bổ ích. Tôi và anh không nhằm mục đích THẮNG/THUA. Chúng ta tranh luận là để nhận thức đúng hơn, sâu hơn về vấn đề được quan tâm. Ai cũng tin vào nhận thức của mình và quan điểm mình bảo vệ. Đó là điều bình thường.

Xin vắn tắt một chút về THƠ và VÈ. Anh so sánh Y tá lành nghề với Bác sĩ. Kết luận đó là 2 đẳng cấp cũng như Vè và Thơ là 2 đẳng cấp. Chỗ này anh có một ngộ nhận lớn. Y tá và Bác sĩ là 2 chức danh cùng ngành y. Y tá đào tạo ngắn hạn. Bác sĩ đào tạo dài hạn. Nhưng Thơ và Vè không phải như vậy. Vè là thể loại, Ca dao (thơ dân gian) là một thể loại khác. Không thể ví như Y tá với Bác sĩ. Hai thể đó bình đẳng với nhau, không có cao hay thấp. Anh có biết rằng trong sách giáo khoa Ngữ văn, Vè được trích học ngang hàng với ca dao, với thơ (những bài hay nhất). Bài "Vè con dao", "Vè rau" thuộc loại những viên ngọc của thơ ca dân gian (Bác Vũ Nho có học vị PGS, Tiến Sĩ). Việc chê Thơ dở như Vè là cách chê nôm na, dân dã có tính chất khẩu ngữ. Không thể dựa vào đó để bình giá chất lượng một bài Vè đặc sắc hay bài Thơ đặc sắc được.

Tôi đã khẳng định một bài VÈ hay quý hơn một bài THƠ dở. Vì vậy anh cố công chứng minh bài "Đồng dao cho người lớn" là một bài Vè sẽ không ảnh hưởng mấy đến chất lượng của nó. Cốt là bạn đọc thấy ĐDCNL hay!

Trả Lời Của Phạm Đức Nhì

Giữa vè và thơ có thêm 2 khác biệt nữa:

     1/ Trong vè ý tưởng bừa bộn, như trong đồng dao “không thành chương khúc”. Trong thơ có thế trận chữ nghĩa, “đấu pháp toàn đội” mà dân phê bình thường gọi là cấu tứ.

Hồi tiểu học tôi mê túc cầu. Mẹ mua cho trái banh, thường rủ mấy đứa cùng trang lứa ra khu đất trống chia làm 2 phe “chiến đấu”. Cũng cởi áo ra làm mốc khung thành đàng hoàng nhưng khi banh lăn thì mạnh ai nấy đá, “hồn ai nấy giữ”. Có banh trong chân là cứ một mình thẳng tiến khung thành đối phương.

Lớn lên mới biết chơi như thế không hiệu quả. Đội banh phải biết phối hợp công thủ, tiếp ứng để vừa không cho đối phương chọc thủng lưới mình vừa tạo cơ hội cho hàng tiền đạo chọc thủng lưới đối phương.

Có “đấu pháp toàn đội” thơ hơn hẳn vè ở mặt tổ chức.

     2/ Vè không có cảm xúc, trong khi với thơ, cảm xúc không thể thiếu; cảm xúc đóng vai trò quan trọng đối với sự thành bại của bài thơ. Đến với vè, hiểu được ý của tác giả rồi … thôi. Đến với thơ, “bắt” được tứ thơ còn vương vấn chữ … tình.

TS Vũ Nho:

Chỗ này anh Nhì lại nói không có căn cứ rồi. Tại sao trong VÈ ý tưởng lại "bừa bộn"? Anh căn cứ vào tài liệu nào mà quả quyết như vậy? Vè chỉ khác thơ dân gian (ca dao) ở chỗ về giàu yếu tố tự sự ( kể chuyện). Vẻ chàng Lía, Vè thất thủ kinh đô... kể chuyện chàng Lía, chuyện kinh đô thất thủ... Tác phẩm Vè hay vẫn cần mạch lạc, nhất quán. Làm gì có chuyện "ý tưởng bừa bộn"? Anh đọc lại bài vè Rau và và vè CON DAO xem chỗ nào thể hiện "ý tưởng bừa bộn"? Anh nói "vè không có cảm xúc" lại là nói lấy được! Bất cứ một tác phẩm văn chương nào, dù thể loại gì, cũng được tạo ra trong cảm xúc của người sáng tạo. Có điều có loại cảm xúc "lặn vào trong", có loại cảm xúc "bong ra ngoài"; có loại cảm xúc mãnh liệt, có loại cảm xúc vừa phải; có cảm xúc trào tuôn, có cảm xúc kìm nén. Sao lại bảo chỉ đến với THƠ mới vương vấn chữ TÌNH, còn với VÈ, (hoặc các thể loại khác) thì...thôi? Tôi cảm thấy anh Phạm Đức Nhì vẫn sai lầm khi coi THƠ cao hơn VÈ, chỉ có THƠ là có "đấu pháp toàn đội", còn VÈ thì không. Nhưng bài thơ dở thì tìm đâu ra "đấu pháp toàn đội"?

Phạm Đức Nhì Trả Lời:

Một Vài Tra Cứu Về Đặc Tính Của Vè

Để nói có sách, mach có chứng, tôi đã vào một số trang Web Văn Học và ghi lại mấy nhận xét về đặc tính của vè như sau đây:

1/ Theo Đại Nam Quốc Âm Tự Vị, vè là chuyện khen chê có ca vần.

2/ Những người đặt vè, bẻ vè, nói vè phần nhiều thuộc tầng lớp dưới trong xã hội.            

3/ Vè mang tính thời sự, các sự kiện trong quá khứ ít được vè quan tâm. Vè xuất hiện tức thời, nắm bắt nhạy bén sự việc, sự kiện, ghi nhanh, rồi truyền đi để gây dư luận.

4/ Vè xuất hiện nhằm đáp ứng sự phản ánh tức thời một sự việc, sự kiện, ngôn ngữ vè mộc mạc, đơn giản, không trau chuốt, gọt dũa, phần lớn các bài vè lại có vận mệnh ngắn ngủi.

5/ Phần lớn các bài vè lại có vận mệnh ngắn ngủi, thời gian cần thiết để đạt tới một hình thức hoàn chỉnh, trau chuốt ít có được.

Kết hợp lại cho dễ hiểu, những người nghiên cứu về vè, viết về vè có những nhận xét sau đây:

1/ Những người đặt vè, bẻ vè, nói vè phần nhiều thuộc tầng lớp dưới trong xã hội.

Vì là tầng lớp dưới của xã hội nên tác giả của vè về kiến thức và “tay nghề” văn chương thường non nớt nếu so sánh với các thi sĩ làm thơ. Ở cái thời vè phát sinh và sau đó là phát triển, thi sĩ làm thơ phần nhiều thuộc giới khoa bảng, thành đạt trên đường học vấn. Hoặc nếu lận đận bước đường thi cử thì cũng là những Ông Đồ làu thông kinh sử, nắm vững quy luật sáng tác các thể loại kinh nghĩa, chiếu, biểu, phú, văn sách … và đặc biệt là các loại thơ.

2/ Vè là chuyện khen chê có ca vần; chuyện xuất hiện tức thời, mang tính thời sự, tác giả nắm bắt nhạy bén sự việc, sự kiện, ghi nhanh rồi truyền đi để gây dư luận.

Mục đích của vè là truyền sự việc, sự kiện thật nhanh cho “kịp thời vụ”; giá trị nghệ thuật là thứ yếu, có thì tốt, không có cũng không sao. Viết vè là kể chuyện bằng văn vần nên thường kể hết chuyện thì thôi, không có đoạn kết. Nếu có thì cũng nhạt phèo, không gây ấn tượng.

Thí dụ 1: Vè Rau. “Nghe vẻ nghe ve – Nghe vè các rau”, cứ thế kể đến loại rau cuối “Giục ngựa buông cương – Là rau mã đề” thì hết.

Thí dụ 2: Vè Chàng Lía

Bài vè rất dài (134 câu), âm điệu lục bát, à ơi nghe rất chán. Đoạn kết thì nhạt nhẽo, “có cũng như không”

Chuyện Lía nay kể như y
Giúp vui cô bác một khi việc rồi
Đầu đuôi có thế mà thôi
Xin chào chư vị, quê tôi tôi về.


3/ Ngôn ngữ vè mộc mạc, đơn giản, không có đủ thời gian cần thiết để đạt tới một hình thức trau chuốt, hoàn chỉnh.

“Đội bóng vè”, vì thời gian gấp rút, tiếp nhận cầu thủ một cách vội vàng, thiếu huấn luyện, thao dợt nên dàn cầu thủ thô ráp, xô bồ, trong khi “đội bóng thơ”, không bị áp lực thời gian, tuyển lựa cầu thủ kỹ càng hơn, được huấn luyện, thao dợt chung để có sự ăn ý với đồng đội, sau đó còn tuyển đi chọn lại trước khi ra sân thi đấu. Nói rõ hơn, “đội bóng vè” là đội thành lập vá víu để đá “chầu”, đá theo “phong trào”, “đội bóng thơ” là đội tuyển, đã có tính chuyên nghiệp.

Thêm vào đó, những thủ pháp nghệ thuật của thơ (ẩn dụ toàn bài, “Gợi, Không Kể”), những đấu pháp toàn đội (cấu tứ) đặc biệt để tạo bất ngờ, tăng sức hấp dẫn cho “lối đá” của các “đội bóng thơ” – do không đủ thời gian và trình độ của “huấn luyện viên” chưa “tới” – nên các “đội bóng vè” đành cho qua.

4/ Kết quả là phần lớn các bài vè có vận mệnh ngắn ngủi.

Tính thời sự là cốt tủy của bài vè. Rất nhiều bài vè, do mất tính thời sự, không còn “hợp thời”, rủ nhau đi vào quên lãng. Dĩ nhiên, cũng có những bài vè còn sống sót. Nhưng lý do để được sống sót phần lớn là nhờ tính lịch sử của những sự kiện, sự việc được lưu truyền (Vè Chàng Lía), cực hiếm có trường hợp do giá trị nghệ thuật của bài vè. Ngoài ra, một số vè còn đang được lưu truyền, cất giữ là để làm tư liệu, tài liệu trong giáo dục văn học, đặc biệt trong những tác phẩm nghiên cứu Văn Học Sử lớn, bao gồm những giai đoạn lịch sử mà vè được phát sinh và phát triển. 

Trích Dẫn Mấy Bài Vè

VÈ RAU

Ve vẻ vè ve
Nghe vè các rau
Thứ ở hỗn hào
Là rau ngành ngạnh
Trong lòng không chánh
Vốn thiệt tâm lang
Đất rộng bò ngang
Là rau muống biển
Quan đòi thầy kiện
Bình bát nấu canh
Ăn hơi tanh tanh
Là rau dấp cá
Có mẹ không cha
Rau má mọc bờ
Thò tay sợ dơ
Nó là rau nhớt
Ăn cay như ớt
Vốn thiệt rau răm
Sống trước ngàn năm
Là rau vạn thọ
Tánh hay sợ vợ
Vốn thiệt rau co
Làng hiếp chẳng cho
Đó là rau húng
Lên chùa thờ cúng
Thiệt dạ hành hương
Giục ngựa buông cương
Là rau mã đề



VÈ BÌNH DÂN HỌC VỤ
               
Lẳng lặng mà nghe
Cài vè học vụ
Đồng bào mù chữ
Ở khắp mọi nơi
Chiếm chín phần mười
Toàn dân đất Việt
Muôn bề chịu thiệt
Chịu đui, chịu điếc
Đời sống vùi dập
Trong vòng nô lệ
Hơi đâu mà kể
Những sự đã qua
Chính phủ Cộng hòa
Ngày nay khác hẳn
Đêm ngày lo lắng
Đến việc học hành
Mấy triệu dân lành
Còn đương tăm tối
Bị đời hất hủi
Khổ nhục đáng thương
Ngơ ngác trên đường
Như mù không thấy
Những điều như vậy
Không thể bỏ qua 


VÈ THỊT CHUỘT 

Nghe vẻ nghe ve 
Nghe vè thịt chuột 
Đứa nào ở đó 
Bắt nước cạo lông 
Đứa nào ở không 
Đi mua đồ nấu 
Đứa nào xấu xấu 
Xắt sả nạo dừa 
Đứa nào không ưa 
Thì đi chỗ khác 
Kiên tâm một lát 
Là có món ăn 
Đừng làm lăng xăng 
Người ta đàm tiếu 
" Con chuột nhỏ xíu 
Sáu bảy người ăn" 



Cảm Xúc Trong Văn, Thơ, Và Vè

Do thi sĩ ngày càng ít câu nệ về mặt hình thức nên khoảng cách giữa thơ và văn xuôi, có thể nói, ngày càng giống như sợi tơ mong manh, không rạch ròi như xưa. Nhưng có một sự khác biệt rất rõ nét – không thể nhập nhòe - là cảm xúc. 

Nhiệm vụ chính của văn xuôi là chuyển tải thông điệp. Cảm xúc cũng có thể có đấy, nhưng chỉ là sản phẩm phụ, không có cũng không sao. Hợp đồng thương mại, án quyết của tòa là những thí dụ.

Còn với thơ, cảm xúc là cốt tủy. Thông điệp của thơ nhiều khi chỉ là cái cớ, là phương tiện để nhà thơ bày tỏ tâm trạng, cảm xúc của mình. Thiếu cảm xúc - thứ cảm xúc của cái tôi riêng tư - thơ sẽ trở thành một chủng loại khác chứ không còn là thơ nữa.

Riêng với vè, nó là văn vần nhưng khác văn xuôi thêm một điểm là tuyệt nhiên không có cảm xúc của cái tôi riêng tư. Người viết vè kể chuyện nhưng là kẻ bàng quan, đứng ngoài câu chuyện của bài vè.

Ba Trạng Thái Tâm Lúc Làm Thơ


     1/ Tranh cãi, tranh luận, phản biện, nói lý lẽ:

Với tâm thái này nếu tác giả biết đưa cái tôi riêng tư vào khung cảnh của cuộc tranh cãi thì tác phẩm, dù có hơi khô khan, vẫn có chút ít cảm xúc, nên vẫn là thơ. Ngược lại, nếu không khéo, cứ sa đà vào lý, để cái tôi riêng tư đứng ngoài làm kẻ bàng quan, thì tác phẩm sẽ là “cái gì đó” chứ không phải là thơ.

Xin cử 2 bài của Thái Bá Tân để làm thí dụ.

MẮNG CON

Mày láo, dám khuyên bố
Mai không đi biểu tình.
Chuyện ấy có nhà nước,
Không liên quan đến mình.
Mày nói y như đảng.
Không liên quan thế nào?
Nước là của tất cả,
Của mày và của tao.
Biểu tình chống xâm lược,
Chứ có lật ai đâu.
Không lẽ mày không biết
Cái dã tâm thằng Tàu?
Mày bảo có nhà nước.
Nhà nước hèn thì sao?
Mà ai cho nhà nước
Quyết việc này thay tao?
Xưa đánh quân Mông Cổ,
Vua còn hỏi ý dân.
Sao không thấy nhà nước
Xấu hổ với vua Trần?
Đành rằng thế mình yếu,
Phải thế nọ, thế này.
Nhưng ở đời, con ạ,
Mềm nắn, rắn buông ngay.
Bố biết con thương bố,
Lo cho bố, cảm ơn.
Con “biết sống”, có thể.
Xưa bố còn “biết” hơn.
Chính vì khôn, “biết sống”,
Tức ngậm miệng, vờ ngây,
Mà thế hệ của bố
Để đất nước thế này.
Ừ, bố già, lẩn thẩn,
Nhưng vẫn còn là người.
Mà người thì biết nhục,
Biết xấu hổ với đời.
Mai biểu tình, thế đấy.
Bố không bắt con đi,
Nhưng cũng đừng cản bố.
Cản cũng chẳng ích gì.

Rõ ràng ở đây có giọng tranh luận, nói lý lẽ, giọng bố “dạy” con. Nhờ đóng vai bố, Thái Bá Tân đã đưa được cái tôi riêng tư vào khung cảnh của bài Mắng Con. Bên cạnh lý, có tinh nên Mắng con đích thị là thơ.

HÔM NAY XỬ WILL NGUYỄN, KHÓ ĐẤY

Kể cũng khó cho đảng.
Biết xử thế nào đây
Chàng Việt kiều Will Nguyễn?
Vấn đề là thế này:

Nếu tha, đuổi về nước
Thì sẽ vướng đồng bào.
Rất nhiều người bị bắt.
Nhà nước định tính sao?

Vì không thể có chuyện
Cùng một “tội” như nhau,
Người thì được tha bổng,
Người bị giam tù lâu.

Rồi các bác sẽ thấy,
Will Nguyễn sẽ được tha.
Không tha Mỹ nó oánh.
Cho nên ở nước ta

Thực sự đếch có luật.
Cứ mềm nắn rắn buông.
Thích gì cứ làm ấy.
Nôm na là diễn tuồng.

Cũng may mà da mặt
Của chính quyền khá dày,
Nên sẽ không xấu hổ.
Thì vẫn thế xưa nay./-

Thái Bá Tân
(Mới lưu truyền trên mạng)


Ở bài này ông cũng phân bua, cũng nói lý lẽ, nhưng cái tôi riêng tư lại đứng ngoài khung cảnh của câu chuyện. Những điều ông trình bày phát xuất từ “trí” chứ không phải “tâm” nên Hôm Nay Xử Will Nguyễn, Khó Đấy không có chất tình, không phải là thơ. Theo tôi, nó cũng không phải là vè. Là “cái gì đó” thì tùy độc giả chọn tên.

Như vậy gọi thơ của Thái Bá Tân là “vè thời đại” có đúng không? Theo tôi, gọi thế là không đúng. “Thơ” Thái Bá Tân có hai loại:

Loại đúng là thơ như: Mắng Con, Lời Nhắn Của Ông Thiệu, Thương Dân Hà Nội Gốc … thì phải gọi là thơ.

Loại “không phải thơ” như: Nói Thẳng, Trí Thức, Khẩu Hiệu, Gửi Bác Trọng, Cách Chức, Không Muốn Mà Phải Nói, Phạm Nhật Vượng, Không Lấy Chồng Việt Nam, Đừng Dây Với Việt Nam … thì miễn đừng gọi nó là thơ, còn gọi là “cái gì đó” thì tùy mỗi người. 


     2/ Chia sẻ cảm xúc, tâm trạng:

Đây là tâm thái mà thi sĩ đã viết ra đại đa số những bài thơ ta thường gặp. Tùy “tay nghề”, tùy trình độ kỹ thuật thơ, tùy mức độ cao hứng, lượng cảm xúc trong bài thơ nhiều ít khác nhau.


     3/ Nổi điên lên, xả hết dồn nén, uất ức, chất chứa trong lòng (Get it off your chest):

Đây là loại tâm thái mà người bình thơ mỏi mắt trông chờ. Ở vào trạng thái tâm này thi sĩ nói vung tít mẹt không còn giữ ý, giữ tứ, không còn e ngại, sợ sệt. Cái tôi văn hóa bị lùa đi chỗ khác chơi để cái tôi đích thực trọn quyền đạo diễn bài thơ. Nếu kỹ thuật thơ đạt tới một trình độ nào đó, bài thơ sẽ có hồn, lời thơ sẽ là tiếng lòng chân thật. Độc giả nếu may mắn đọc bài thơ sẽ được vinh dự giao tiếp với tác giả bằng thứ Tiếng Người (viết hoa) mà vì mải mê tự điều chỉnh mình để phù hợp với cuộc sống của xã hội văn minh, ông (bà) đã quên mất từ lâu. Bài thơ như thế đã đạt được phần thưởng cao quý - được bước vào Bến Bờ Thơ Ca.

Chỉ có một số rất ít bài thơ loại này như: Hồ Trường (Nguyễn Bá Trác), Say Đi Em (Vũ Hoàng Chương), Trái Tim Rao Bán (Đinh Thị Thu Vân), Tạ Lỗi Trường Sơn (Đỗ Trung Quân), Nhìn Từ Xa … Tổ Quốc  (Nguyễn Duy) …

Vè Thì Khác

Người viết vè không tranh biện và cũng không xả bầu tâm sự. Họ vận dụng vốn kiến thức và khả năng chọn chữ xếp vần giới hạn của mình nắm bắt nhạy bén sự việc, sự kiện, ghi nhanh rồi truyền đi để gây dư luận.

Kết Luận

Tôi không có ý phân định thắng thua với bác Vũ Nho nên chỉ trình bày một số góc cạnh của vấn đề để độc giả tự rút ra kết luận.

Cũng cần phải công nhận tôi đã sai khi viết “Trong vè ý tưởng bừa bộn”. Lỡ bấm vào chỗ “xuất bản” rồi nên khi đọc kỹ lại thấy sai cũng không sửa chữa được. Nhưng dù có sai vì lý do gì đi nữa thì cũng là sai. Bác Vũ Nho sửa lưng tôi là đúng.

Tuy nhiên, dù trong vè ý tưởng không bừa bộn đi nữa, về “thế trận chữ nghĩa”, đấu pháp toàn đội, vè vẫn không thể sánh với thơ. Tôi xin phép độc giả được lập lại lần nữa đoạn viết về sự khác biệt ấy.

“Đội bóng vè”, vì thời gian gấp rút, tiếp nhận cầu thủ một cách vội vàng, thiếu huấn luyện, thao dợt nên dàn cầu thủ thô ráp, xô bồ, trong khi “đội bóng thơ”, không bị áp lực thời gian, tuyển lựa cầu thủ kỹ càng hơn, được huấn luyện, thao dợt để có sự ăn ý với đồng đội, sau đó còn tuyển đi chọn lại trước khi ra sân thi đấu. Nói rõ hơn, “đội bóng vè” là đội thành lập vá víu để đá “chầu”, đá theo “phong trào”, “đội bóng thơ” là đội tuyển, đã có tính chuyên nghiệp..

Thêm vào đó, những thủ pháp nghệ thuật của thơ (ẩn dụ toàn bài, “Gợi, Không Kể”), những đấu pháp toàn đội (cấu tứ) đặc biệt để tạo bất ngờ, tăng sức hấp dẫn cho “lối đá” của các “đội bóng thơ” – do không đủ thời gian và trình độ của “huấn luyện viên” chưa “tới” – nên các “đội bóng vè” đành cho qua.

Trở lại Đồng Dao Cho Người Lớn, theo Đỗ Trọng Khơi, nó là bài đồng dao, một loại vè. Nói như thế không sai nhưng cũng chưa hoàn toàn chính xác. Sau khi xem xét, soi mói, từng chữ, từng câu cũng không tìm thấy tý cảm xúc nào từ cái tôi riêng tư của tác giả nên tôi có thể vững bụng nói rằng nó là thứ cây dị chủng trong vườn thơ. Còn muốn đặt cho nó cái tên chủng loại gì đó thì tùy mỗi người.

Một lần nữa, cám ơn bác Vũ Nho đã cho tôi có cơ hội trao đổi với bác về một để tài lý thú.


                    TRAO ĐỔI VỀ “BÀI THƠ” ĐỒNG DAO CHO NGƯỜI LỚN

                                          (Tiếp theo và hết)

TS Vũ Nho

Anh Phạm Đức Nhì đã công phu tra cứu về thể loại VÈ. Nhưng công phu quá, anh lại bỏ quên bài "Đồng dao cho người lớn" của Nguyễn Trọng Tạo. Tôi không quá câu nệ vào những gì mà người ta đã viết thành sách này, sách kia. Nếu vè nghiêng về tự sự (kể chuyện), thì ĐDCNL có chuyện gì? Nếu người đặt vè là trình độ văn hóa thấp (nói thế cũng là nói lấy được, vì khối ông quan, ông cử, ông tú về sống giữa dân chúng, họ vừa là tác giả THƠ, cũng lại là tác giả VÈ). Và tôi đố anh Nhì dám bảo tác giả Nguyễn Trọng Tạo là "văn hóa thấp". Nếu bảo tác giả vè không thạo "đấu pháp toàn đội" của THƠ, thì cũng không đúng với Nguyễn trọng Tạo, vì bản thân anh Tạo là nhà thơ có thành tựu. Nói tóm lại, anh Nhì có thể không thích bài ĐDCNL, đấy là quyền của anh. Nhưng cố chứng minh ĐDCNL là VÈ để chê bai thì không thuyết phục!


Phạm Đức Nhì

Vè Truyền Thống

1/ Những người đặt vè, bẻ vè, nói vè phần nhiều thuộc tầng lớp dưới trong xã hội. Vẫn có một số “ông này, ông kia” nhưng rất ít.

2/ Vè là chuyện khen chê có ca vần; chuyện xuất hiện tức thời, mang tính thời sự, tác giả nắm bắt nhạy bén sự việc, sự kiện, ghi nhanh rồi truyền đi để gây dư luận.

3/ Ngôn ngữ vè mộc mạc, đơn giản, không có đủ thời gian cần thiết để đạt tới một hình thức trau chuốt, hoàn chỉnh.

4/ Kết quả là phần lớn các bài vè có vận mệnh ngắn ngủi.

Tôi xin phép được gọi những bài vè mang đặc tính này là vè truyền thống.


Đồng Dao Cho Người Lớn

1/ Nếu cắt mỗi câu làm hai thì ĐDCNL sẽ có nhịp bốn chữ. Đỗ Trọng Khơi viết “Đồng Dao của Nguyễn Trọng Tạo viết ở nhịp 8 chữ nhưng soi chẻ rạch ròi vẫn thấy cái dư khí của hồn bốn chữ dân gian là có ý đó. Như vậy, ĐDCNL có hình thức là bài đồng dao.

2/ Đồng dao là một loại vè nên nếu bảo ĐDCNL có hình thức giống một bài vè cũng có thể đúng.

3/ ĐDCNL không có cái tôi riêng tư của tác giả (một đặc điểm của vè truyền thống) nên chắc chắn không phải là thơ. Lập luận cho rằng Nguyễn Trọng Tạo mượn hình thức đồng dao để làm thơ cũng không có chỗ đứng.

4/ Nhưng ĐDCNL cũng không phải vè truyền thống vì 3 lẽ:

     a/ Nội dung không mang tính thời sự mà chỉ là một tập hợp “hổ lốn” những câu nói mang tính triết lý về cuộc đời.
     b/ Tác giả không phải tầng lớp thấp trong xã hội
     c/ Ngôn ngữ không thô ráp, mộc mạc mà tương đối trau chuốt, đẹp một cách sang trọng.

Như vậy, ĐDCNL không phải là thơ, có hình thức vè nhưng không phải là vè truyền thống, cũng không phải là “vè thời đại” như có người gọi “thơ” Thái Bá Tân.
Dựa vào hình thức của “bài thơ” và đặc điểm không có cái tôi riêng tư của tác giả để gọi ĐDCNL là vè (như tôi trong bài viết Về “Bài Thơ” Đồng Dao Cho Người Lớn) là có phần gượng ép vì không hoàn toàn chính xác.

Ở đây tôi chỉ nhấn mạnh ĐDCNL không phải là thơ. Còn gọi nó là gì thì tùy cao kiến của độc giả.

Một Bài Khác Nữa

Tôi đọc khá nhiều “thơ” Thái Bá Tân thì thấy số lượng những bài “không phải thơ” lại nhiều hơn thơ đích thực. Tôi vào thivien.net để đọc thêm một số thơ của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo, với hy vọng có thể kết luận ĐDCNL chỉ là trường hợp cá biệt. Trong số 438 bài thơ của ông ở trang web này tôi mới đọc đến bài thứ 35 thì “gặp” một bài “không phải thơ” nữa. Xin copy xuống dưới đây để trình làng.

CHÚ MÈO ĐI HỌC

Mèo mẻo mèo meo
Chú mèo đi học
Áo quần trắng muốt
Đôi giày xanh xanh
Chân chú bước nhanh
Bên dòng mương nhỏ.

Gặp bông hoa đỏ
Mèo mải ngắm nhìn
Gặp chú chuồn kim
Chơi trò đuổi bắt
Gặp chim sắt sặt
Gây chuyện cãi nhau
Trèo tít cành cao
Chim vù bay mất...

Chú mèo bực tức
Lao mình đuổi theo
Sẩy chân té nhào
Mực giây bẩn áo...

Mèo ta mếu máo
Chạy vội tới trường
Vừa buổi học tan
Bạn bè rảo bước...
Tất cả cùng thuộc
Bài hát rất hay
Chú mèo mải chơi
Muốn hoà giọng hát
Nhưng chú chỉ biết
Meo mẻo
Mèo meo...

Tác giả quan sát chú mèo trắng dạo chơi và đem trí tưởng tượng phong phú của mình vẽ thêm hoa hòe hoa sói để giúp vui cho các cháu thiếu nhi. Chú Mèo Đi Học – dù là sự biểu lộ một tấm lòng đáng quý đối với tuổi thơ - chỉ là sản phẩm của lý trí, không có một mảy may cảm xúc của cái tôi riêng tư. Nó cũng “không phải thơ” mà là một thứ cây dị chủng trong vườn thơ.

Thi sĩ làm thơ mà không để ý rất dễ mắc lỗi này. Thay vì chia sẻ với độc giả cảm xúc, rung động của mình đối với cảnh thơ, ngài lại cho lý trí độc quyền đạo diễn. Phần lớn “thơ” của Thái Bá Tân và một vài bài của Nguyễn Đức Tùng là những thí dụ điển hình. (1)

Tôi viết loạt bài về phân biệt thơ hay “không phải thơ” như một lời cảnh báo. Tôi không muốn phải thấy những tài thơ, còn non trẻ hay đã chin mùi, bỏ tâm huyết, công sức vào một tứ thơ độc đáo, mà vì một lỗi lầm (có thể tránh được) biến đứa con tinh thần của mình, lẽ ra sẽ là một bài thơ hay lại trở thành một thứ cây dị chủng trong vườn thơ. Như thế uổng phí lắm.

Bác Vũ Nho nói  “… bản thân anh Tạo là nhà thơ có thành tựu”. Tôi hoàn toàn không phủ nhận điều đó.  Ngay cả khi đang viết những dòng chữ này, lòng kính trọng và sự nể phục của tôi đối với thanh tựu (về thơ) của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo cũng không hề thay đổi.

Bình thơ, tôi không chủ ý “nâng” hay “hạ” thi sĩ mà chỉ dốc lòng tìm công lý cho thơ.

TS Vũ Nho

Cám ơn tác giả Phạm Đức Nhì đã trao đổi thẳng thắn.

Nói tóm lại, việc cảm nhận bài thơ "Đồng dao cho người lớn" gây ra sự tranh luận vì anh Nhì đã coi bài thơ của Nguyễn Trọng Tạo là một bài VÈ. Và ra sức chê bai vè. Nhưng Vè là thể loại văn học dân gian, có chức năng riêng. Không thể đem thơ dở gán cho vè để chê. Một thể loại văn học dân gian khác xa với một bài thơ có tác giả, dù là mượn hình thức "đồng dao". Bởi thế nên anh Nhì đã thấy được sự không chính xác của mình trong kết luận "Ở đây tôi chỉ nhấn mạnh ĐDCNL không phải là thơ. Còn gọi nó là gì thì tùy cao kiến của độc giả". Bài đồng dao đó có phải là THƠ không, đó là tùy quan niệm của mỗi người. Nó hay hoặc dở, cũng tùy vào độc giả! Vậy là có thể khép lại cuộc thảo luận này. Một lần nữa trân trọng cám ơn anh Phạm Đức Nhì!

Phạm Đức Nhì

Cám ơn bác Vũ Nho đã trao đổi với tôi về một đề tài lý thú. Nhờ thế tôi đã "thấy ra" vài điều bổ ích. Chúc bác vui khỏe.


CHÚ THÍCH:
1/ Ngoài bài thơ Em Còn Trẻ Và Em Không Thể Biết tôi còn thấy có 2 bài nữa là Sống và Đàn Ông






Thứ Hai, 6 tháng 8, 2018

LỜI BÌNH NGẮN CHO BÀI THƠ "KHĂN QUÀNG" CỦA NGUYỄN ĐỨC TÙNG



KHĂN QUÀNG

Chiếc khăn quàng của em
Anh gấp lại, để dành

Như người lính đứng nghiêm
Gấp lá cờ cuối cùng
Của một đất nước chiến bại

Gấp làm hai
Gấp làm tư, làm tám, và gấp mãi (1)

Đây là bài thơ số 44 trong loạt Thơ Tình Thứ Bảy Nguyễn Đức Tùng.

Tôi thích nhất là thi pháp của bài thơ. Đây là tay nghề độc đáo của Nguyễn Đức Tùng. Số chữ trong câu, số câu trong bài hoàn toàn tự do, không theo một quy luật nào. Vần tự nhiên thoang thoảng vừa đủ ngọt; bài thơ lại ngắn nên không có hội chứng nhàm chán vần.

Về thi pháp, nhà thơ của chúng ta đã đạp đổ thơ truyền thống, bỏ xa thơ mới và bóp còi qua mặt thơ mới biến thể. Anh đã thực sự tự do ung dung múa bút trong vườn thơ để biểu diễn tuyệt chiêu của mình.

Em ở đây có thể là vợ, người tình đã khuất bóng hay đã chia tay. Cũng có thể là em gái, đã chết hay đã đi thật xa. Hay cũng có thể là người phụ nữ nào đó thân thiết. Đặt hình ảnh người lính “đứng nghiêm gấp lá cờ cuối cùng của một đất nước chiến bại” bên cạnh hình ảnh của chính mình đang gấp chiếc khăn quàng - kỷ vật của người phụ nữ gần gũi, thân yêu nhất-  vừa tương hợp, vừa sâu sắc vừa rất tài tình, đã làm nổi bật s mất mát lớn lao và nỗi xót xa đau đớn vô bờ.

Với người lính gấp cờ, mỗi nếp gấp là một lưỡi dao đâm nhói vào tim. Tương tự như vậy, mỗi cử động để gấp chiếc khăn quàng biểu hiện một nỗi tiếc nuối, nhớ thương day dứt, không nguôi. Bài thơ 37 chữ - chỉ vài cái liếc mắt là hết – nhưng để lại dư vị thật đậm đà, dễ thương.  Độc giả (như tôi) đã tắt máy bước ra vườn mà cái hình ảnh gấp khăn quàng ấy vẫn còn vương vấn mãi trong tâm hồn.

Thi sĩ hoàn toàn không nói gì đến nỗi niềm thương thớ, tiếc nuối, nhưng những hình tượng đưa vào bài thơ đã dẫn độc giả đến chỗ cần đến. Thủ pháp Show, Don’t Tell (Gợi, Không Kể) thật tuyệt vời.

Tôi bỗng nhớ đến Cánh Đồng (2), một bài thơ khác của anh, cũng có thủ pháp “Gợi, Không Kể” kín kẽ, độc đáo. Đặc biệt là tứ thơ - việc thỏa mãn nhu cầu tình dục của phụ nữ - đã được anh đẩy xa đến tận cùng. Có điều thế trận của bài thơ hơi xộch xệch.

Khăn Quàng không có tứ thơ hay như thế nhưng từ ngôn ngữ thơ, thể thơ, cách gieo vần đến thế trận chữ nghĩa đều không một chút gì sơ sót. Có thể nói là bài thơ có kỹ thuật thơ hoàn hảo.

Nhà thơ nữ Đinh Thị Thu Vân đã có lần thố lộ là Nếu Không Có Ngày 30 Tháng Tư:

Em sẽ đến với tình yêu bằng nửa trái tim yếu đuối
Còn nửa kia, đành giữ lại để … nghi ngờ”

Nguyễn Đức Tùng đến với thơ, hà tiện hơn, không bằng nửa, mà chỉ bằng một phần rất nhỏ của trái tim. Phần lớn còn lại anh đã để khối óc rất thông minh sắc bén của chính mình che khuất. Vì thế, mặc dù cả hai bài đều có kỹ thuật thơ điêu luyện (Khăn Quàng đã đến mức hoàn hảo), vẫn thiếu một thứ mà người đọc thơ sành điệu vô cùng khao khát: Hồn Thơ.

PHẠM ĐỨC NHì

CHÚ THÍCH:

1/ Bài thơ cũng được đăng trên trang web Diễn Dàn trong đó câu cuối bỏ bớt một chữ “gấp”. Tôi thấy gọn hơn nên chọn bài đó.

 2/ Cánh Đồng - Một Bài Thơ Lạ, Phạm Đức Nhì, phamnhibinhtho.blogspot.com





Thứ Năm, 12 tháng 7, 2018

VỀ "BÀI THƠ" "ĐỒNG DAO CHO NGƯỜI LỚN"


                            


                                   
Từ Một Bình Luận Trên Facebook

Dưới bài “Em Còn Trẻ Và Em Không Thể Biết” Của Nguyễn Đức Tùng Có Phải Là Thơ? (1) do tôi (Phạm Đức Nhì) viết và đăng trên Facebook đã khá lâu, chị Kim Phượng Ngọc Huỳnh mới đây đã có bình luận như sau:

Anh PĐN ơi!
Bài thơ Đồng Dao Cho Người Lớn của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo, theo em thấy nó "khô" quá. Vậy có phải là thơ không anh?

Đọc bình luận của chị xong tôi vào Google tìm đọc Đồng Dao Cho Người Lớn thì thấy bài thơ đã đuợc khá nhiều người bình. Nó cũng được nhạc sĩ Đỗ Triệu An phổ nhạc và còn được lấy tựa đặt tên cho cả một tập thơ của thi sĩ. (2) Với bài thơ được đọc và yêu mến rộng rãi như thế mà chị KPNH lại chê là “khô” và lại còn đặt câu hỏi “Vậy có phải là thơ không anh?” thì đúng là chị đã hơi bị “to gan” mà lại còn “làm khó” tôi nữa. Tuy nhiên, vì câu hỏi liên quan đến bài viết của mình nên tôi bỏ thời gian đọc kỹ bài thơ và “gồng mình” viết thêm một bài ngắn trả lời chị.

Dưới đây là cả bài thơ:

ĐỒNG DAO CHO NGƯỜI LỚN
               
Có cánh rừng chết vẫn xanh trong tôi
có con người sống mà như qua đời
có câu trả lời biến thành câu hỏi
có kẻ ngoại tình ngỡ là tiệc cưới
có cha có mẹ có trẻ mồ côi
có ông trăng tròn nào phải mâm xôi
có cả đất trời mà không nhà ở
có vui nho nhỏ có buồn mênh mông
mà thuyền vẫn sông mà xanh vẫn cỏ
mà đời vẫn say mà hồn vẫn gió
có thương có nhớ có khóc có cười
có cái chớp mắt đã nghìn năm trôi.

Nguyễn Trọng Tạo - 1992


Trước hết, xin cảm ơn chị Kim Phượng Ngọc Huỳnh. Chị có con mắt thơ rất tinh. Đúng như chị nói, “bài thơ” ấy “khô”, chẳng có tý cảm xúc nào. Còn nó có phải là thơ hay không thì bây giờ tôi sẽ giải thích.

Đồng Dao Và Vè

Đồng dao là lời hát dân gian truyền miệng của trẻ em, thường kèm một trò chơi nhất định. (3)

Sau đây là một ví dụ:

DUNG DĂNG DUNG DẺ

Dung dăng dung dẻ
Dắt trẻ đi chơi
Đến ngõ nhà Trời
Lạy Cậu lạy Mợ
Cho chó về quê
Cho dê đi học
Cho cóc ở nhà
Cho gà bới bếp
Ngồi xệp xuống đây

Theo Wikipedia Tiếng Việt thì:

“Vè là một trong những thể loại văn học dân gian Việt Nam. Vè được sáng tác bằng văn vần, sử dụng nhiều hình thức khác nhau: câu bốn chữ, năm chữ, lục bát, hát giặm, nói lối. Có vè đồng dao, là những bài hát của trẻ em. Có vè thế sự, về người thật việc thật, phản ánh, bình luận những câu chuyện thời sự địa phương, những truyện đồi phong bại tục, những chuyện áp bức bóc lột của cường hào địa chủ và đời sống khổ cực của dân nghèo trong làng xóm. Những người đặt vè, bẻ vè, nói vè phần nhiều thuộc tầng lớp dưới trong xã hội.”

Dựa vào thông tin trích dẫn ở trên có thể kết luận mà không sợ sai lầm, xét về mặt thể loại, đồng đao cũng là một loại vè, không phải là thơ.

Trở Lại “Đồng Dao Cho Người Lớn”

Theo Đỗ Trọng Khơi, “Đồng Dao của Nguyễn Trọng Tạo viết ở nhịp 8 chữ nhưng soi chẻ rạch ròi vẫn thấy cái dư khí của hồn bốn chữ dân gian”. Tôi đồng ý với anh ở điểm này. Cho nên ĐDCNL – đúng như cái tựa của nó – là một bài đồng dao. Và theo tôi, khi chọn cái tựa ấy, về mặt hình thức, tác giả đã vô tình tự xếp loại nó là vè.

Về nội dung thì “bài thơ” ấy chỉ là một tập hợp “hổ lốn” những câu nói, những phát biểu của nhà thơ, xếp đặt tùy tiện, không theo một cấu trúc hay một thế trận nào. Mỗi phát biểu là một “triết lý vụn” về một khía cạnh nào đó của cuộc đời.

Những phát biểu kiểu “triết lý vụn” ấy đã được ông góp nhặt từ quá trình học hỏi cũng như kinh nghiệm sống của mình. Lúc cơn hứng đến hoặc có gì đó khơi gợi, thôi thúc, ông cho nó tuôn ra và dùng kỹ thuật thơ của mình ghi lại. Rất tiếc, ông đã quên tạo ra một khung cảnh để mời tâm hồn của mình bước vào cho “tâm đối cảnh” và “tức cảnh sinh tình”. Cái gọi là “tứ thơ” chỉ là dòng ý tưởng – hoàn toàn là sản phẩm của lý trí - tuy mở ra nhiều miền nghĩa nhưng lại không có tâm hồn và cảm xúc làm bạn đồng hành nên khô cứng như một cái xác không hồn.

Như vậy, Đồng Dao Cho Người Lớn – đúng như tác giả đã vô tình tự xếp loại – là một bài vè, không phải là thơ.


Những Vòng Nguyệt Quế

Đồng Dao Cho Người Lớn không phải là thơ nhưng, không biết tại sao, lại được dân chơi thơ chấp nhận, tán thưởng và trao tặng nhiều phần thưởng cao quý:

1/ Được nhạc sĩ Đỗ Triệu An phổ nhạc.
2/ Được lấy tên đặt cho cả một tập thơ cùng tác giả (2)
3/ Được ít nhất 3 người viết lời bình. (Đỗ Trọng Khơi, Trần Kim Lan và Trần Trung) (4)  
4/ Được chọn là một trong 100 Bài Thơ Hay Thế Kỷ 20.
5/ Bài do Trần Trung viết lời bình được đưa vào tập Bình Thơ Từ 100 Bài Thơ Hay Thế Kỷ XX - Tập Hai


Kết Luận:

Nhận diện thơ – phân biệt thơ với những thứ không phải là thơ - lẽ ra phải là bài học đầu tiên cho thi sĩ, cho nhà phê bình và cả những người thưởng thức thơ. Nhưng bài học nhập môn này thường không được giới chơi thơ coi trọng hoặc tìm hiểu đến nơi, đến chốn.

Thỉnh thoảng có một bài vè đi lạc vào vườn thơ cũng không phải là chuyện lạ. Vè được nhạc sĩ phổ nhạc cũng chẳng có gì đáng nói. Vè mà được lấy tên đặt cho cả một tập thơ, tuy có hơi ngược đời nhưng đó là quyền của tác giả. Vè mà được mấy người chơi thơ xúm vào viết lời bình, tuy hơi lạ nhưng cũng dễ hiểu – đó là quyền của người bình; hơn nữa họ thuộc trường phái bình thơ không bàn thi pháp - chỉ đem ý tứ tán rộng ra – thì thơ có khác gì văn xuôi, thơ với “không thơ” cũng “cá mè một lứa”.

Tuy nhiên, để một bài vè như Đồng Đao Cho Người Lớn, một thứ cây dị chủng, chưa đủ điều kiện để được gọi là thơ, không những lọt vào vườn thơ mà lại còn được đặt vào chỗ trang trọng nhất, được chọn vào danh sách 100 Bài Thơ Hay Thế Kỷ 20, thì quả là trái khoáy và bất công đến độ lố bịch. Lạ lùng thay, sự trái khoáy và bất công ấy vẫn cứ ung dung tồn tại suốt bao nhiêu năm nay. Mãi cho đến tuần lễ cuối tháng 6 /2018  mới có người lên tiếng phản bác. Một lần nữa, cám ơn chị Kim Phượng Ngọc Huỳnh, người có tấm lòng vàng với thơ, đã mạnh dạn bày tỏ ý kiến của mình.

 Xin những người có trách nhiệm canh giữ Vườn Thơ Việt Nam và những người yêu thơ khác cùng góp tiếng nói để lấy lại công đạo cho thơ.

Texas ngày 10 tháng 7 năm 2018
Phạm Đức Nhì
phamnhibinhtho.blogspot.com

CHÚ THÍCH:

1/ Trang Facebook nhipham
2/ Đồng Dao Cho Người Lớn, Nhà Xuất Bản Văn Học, Hà Nội 1994.
4/
Đỗ Trọng Khơi trong Bàn Về Đồng Dao Cho Người Lớn Của Nguyễn Trọng Tạo
Trần Kim Lan trong Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Đồng Dao Cho Người Lớn Của Nguyễn Trọng Tạo 
Trần Trung trong “Đồng Dao Cho Người Lớn”
Bình Thơ Từ 100 Bài Thơ Hay Thế Kỷ 20 (Tập Hai), Vũ Quần Phương Chủ Biên, Nhà Xuất Bản Giáo Dục 2008.
Cả 3 người bình đều gọi ĐDCNL là bài thơ.