Chủ Nhật, 23 tháng 8, 2026

VÔ NGÃ

 

 

Hai Cái Ta

 

Tại sao chúng ta phải tu hành? Tu hành vì chúng ta khổ! Tại sao chúng ta khổ? Chỉ vì chúng ta có cái "Ta". Nếu không có "Ta" thì Ai khổ? Nếu không có Ai khổ thì Ai cần tu hành, Ai muốn giải thoát? Nếu không có "Ta" thì Ai sinh Ai tử?

 

Tóm lại nguyên nhân của khổ chính là sự có cái Ta. (Chấp Ngã)

 

1. Một cái Ta dường như hiện hữu độc lập, tự tánh không tùy thuộc vào nhân duyên bên ngoài, giữ vai trò chủ động, sai khiển 5 uẩn.

 

2. Một cái Ta giả lập trên 5 uẩn để chỉ định, phân biệt, xưng hô cho một cá nhân trong môi trường xã hội, cộng đồng. Nó là một danh từ quy ước rất cần thiết cho đời sống hằng ngày, thuộc Tục Đế.

 

Trong kinh luận có nói đến 62 tà kiến về sự chấp ngã, nhưng chung quy cũng không ngoài 5 uẩn. Đó là chấp:

 

- Sắc là Ta

- Sắc nằm trong Ta

- Ta nằm trong sắc

- Ta có sắc. 

 

Chấp sắc là Ta: Cho thân tứ đại, đầu, mắt, tay, chân... là Ta. Khi thân đi thì cho là Tôi (Ta) đi. Nhìn trong gương thấy mặt đẹp, cho là Tôi đẹp.

 

Chấp sắc nằm trong Ta: Cho sắc là một phần nhỏ nằm trong cái Ta (lớn). Thí dụ như nói "chân tôi đau" tức chân là một phần của Tôi.

 

Chấp Ta nằm trong sắc: Cho Ta là một phần nhỏ của sắc, tức sắc lớn hơn Ta. Thí dụ như nói "Tôi đau bụng" - tức Tôi nằm trong sắc (bụng).

 

Chấp Ta có sắc: Cho Ta là cái gì ở ngoài sắc và là chủ của sắc. Thí dụ như nói "Tôi phải săn sóc cái thân".

 

 

 

VÔ CHỦ

 

Sự chấp ngã của Mạt Na là "câu sinh ngã chấp" tức sự chấp ngã cùng sinh ra một lần với thân mạng. Nhưng thật ra Mạt Na đã chấp ngã trước khi thân mạng được sinh ra. Nó lấy kiến phần (darsanabhaga) của A lại Da làm đối tượng và lầm cho đó là Ngã. Do đó sự chấp ngã này rất là vi tế.

 

 

Sau khi thân mạng được sinh ra, Mạt Na có cơ hội củng cố sự chấp ngã của nó, bằng cách gán vào mọi sự vật đối tượng cái nhãn hiệu Ta và Của Ta. Như mỗi lần mở miệng ra nói Ta (Tôi) là một lần củng cố thêm sự hiện hữu của cái Ta, trừ trường hợp Ý thức biết đó là một quy ước giả lập.

 

Sự chấp ngã của Ý thức là "phân biệt ngã chấp" tức sự chấp ngã do nhận thức sai lầm mà ra. Sự nhận thức sai lầm này là kết quả của vô minh quá khứ, còn gọi là Si - tức sự không thông hiểu giáo lý Phật pháp như Tứ Diệu Đế, Tam Pháp Ấn (vô thường, khổ, vô ngã)...

 

Khi nhìn vào cái thân tứ đại này, thay vì ghi nhận một cách đúng đắn: "Đây là Thân", Ý thức lại ghi nhận: "Đây là Ta, hoặc đây là Thân Ta". Khi đi, thay vì ghi nhận như thật: Thân đang đi, hoặc có một sự đi, Ý thức lại ghi nhận: "Ta đang đi".

 

Ý thức tuy cũng chấp ngã, nhưng nó có khả năng ghi nhận, phân biệt sự vật đúng như thật. Nếu được học, hiểu, tu tập quán chiếu Vô Ngã, dần dà Ý thức sẽ không còn ghi nhận sai lầm về sự thật nữa mà sẽ hiểu tất cả những sự đi, đứng, nằm, ngồi, nói, năng, v.v... chỉ là một sự tác động vô chủ của 5 uẩn. Không có một cái Ta nào hiện hữu thực chất để làm chủ hay điều khiển 5 uẩn cả.

 

Ý thức cần nhận diện cho rõ sự duyên khởi vô chủ của 5 uẩn cũng như của các pháp. Để hiểu rõ về vô chủ, ta có thể quán chiếu về mưa.

 

Mưa là gì? Là một hiện tượng thiên nhiên, là sự rơi rớt của những hạt nước từ trên không xuống đất. Gặp trời nắng, nước trong sông, hồ, bốc hơi lên tụ thành mây. Khi khí hậu thay đổi nhiệt độ và áp tiết thì mây biến thành nước và rơi xuống thành mưa. Những hạt nước mưa chảy trở về ao, hồ. Sau đó, nếu gặp trời nóng sẽ lại bốc hơi lên và cuộc tuần hoàn lại tái diễn. Như vậy mưa chỉ là một phần nhỏ của cả cuộc tuần hoàn trên. Không có Ai làm ra mưa! Mưa là một hiện tượng vô chủ, tức không có ai làm chủ hay điều khiển nó.

 

Cũng thế, khi bước đi, bạn không nên cho rằng có một cái Ta bước đi mà chỉ có một sự bước đi, hay đúng hơn là có một cái thân đang bước đi. Sự bước đi này cũng là một hiện tượng vô chủ, diễn tiến như một cơn mưa vậy. Chỉ có một sự đi chứ không có Ai đi cả! Vì sao? Trong tâm có một ý niệm (muốn đi) hiện khởi, ý niệm này tác động vào thân khiến cho thân di động. Chỉ có một sự di động, biến chuyển xảy ra do tác động phối hợp của thân và tâm, thế thôi! Sự kiện này xảy ra "vô chủ". Thế nhưng bởi vô minh chấp ngã, Mạt Na cộng tác với Ý thức, gán vào sự kiện vô chủ đó một ông chủ, tức cái Ta: "Ta đi".

 

Ngay nơi 5 uẩn này đã có một sự chấp Ta rồi, và tệ hại hơn nữa, khi đối đầu với thế giới bên ngoài, tiếp xúc, xưng hô, chúng ta không thể nào không dùng chữ Ta. Vì nếu bỏ, không dùng chữ Ta nữa thì ăn nói làm sao bây giờ? Làm sao phân biệt được đâu là anh, đâu là tôi? Đến đây bạn đọc cần nhận định rõ có hai loại Ta (ngã):

 

1. Một cái Ta dường như hiện hữu độc lập, tự tánh  không tùy thuộc vào nhân duyên bên ngoài, giữ vai trò chủ động, sai khiển 5 uẩn.

 

2. Một cái Ta giả lập trên 5 uẩn để chỉ định, phân biệt, xưng hô cho một cá nhân trong môi trường xã hội, cộng đồng. Nó là một danh từ quy ước rất cần thiết cho đời sống hằng ngày, thuộc Tục Đế.

 

Thông thường, vì ít khi nào để ý xem cái Ta hiện hữu kiểu nào, có mấy loại, nên chúng ta chấp lẫn lộn cả hai loại trên. Trong hai cái Ta thì cái Ta dường như hiện hữu độc lập tự tánh là một tà kiến cần phải giải trừ, vì thực sự nó chưa và sẽ không bao giờ hiện hữu. Còn cái Ta giả lập là một quy ước tục đế, nó vô hại một khi đã thấu hiểu Vô Ngã.

 

Các vị A La Hán, Bồ Tát, sau khi chứng ngộ vẫn tiếp tục dùng chữ Ta (tôi) để xưng hô hay nói chuyện với người, nhưng trong tâm của các ngài không còn bám víu vào một cái Ta, không còn bóng dáng của một cái Ta hiện hữu độc lập. Tuy cái ta giả lập này tự nó không phải là một tà kiến, nhưng nếu không hiểu Vô Ngã, thì mỗi lần dùng đến nó như nói: Tôi đi, tôi làm, tôi nói, v.v... chúng ta lại vô tình củng cố thêm sự chấp ngã sâu dày từ đời vô thỉ.

 

Nói đến đây xem như xong phần "Chư pháp Vô Ngã". Chúng ta có thể chuyển sang nói chuyện theo Đại thừa để thay đổi không khí.

 

 

 

CÓ HAY KHÔNG?

 

Đa số hay ưa chuộng Bát Nhã, thích tu theo "Không", ít khi nào nói đến "Có", xem "Có" như một tà kiến, rất kị nói đến, vì nếu nói đến có thể bị liệt vào Tiểu Thừa chấp pháp. "Không" và "Có" là hai khái niệm đối đãi tương sinh. Nếu không có "Không" thì sẽ không có "Có". "Không" và "Có" giống như hai mặt của một đồng tiền, làm sao có thể tách rời được?

 

Nhưng trước khi nói chuyện có Có-Không, thiết nghĩ cần phải xác định lại ý nghĩa cũng như vị trí của hai chữ này. Như ở phần trước, khi nói đến Vô Ngã, cần phải hiểu Ngã là gì? Ta là gì? Chấp ngã là chấp ngã cái gì? Có là có cái gì? Không là không cái gì? Cũng cùng một chữ mà nói theo trong Đạo thì một nghĩa, theo ngoài đời thì lại một nghĩa khác.

 

Do đó khi nói chuyện, nhất là chuyện Đạo, cần xác định lại phương diện vị trí, hoặc theo Chân đế tuyệt đối hoặc theo Tục đế tương đối, hoặc Tánh, hoặc Tướng. Vẫn biết Tánh không rời Tướng, Tướng không rời Tánh, nhưng nếu nói lẫn lộn thì sinh ra nhiều hiểu lầm.

 

Thông thường chữ "Có" có nghĩa khẳng định, "Không" là phủ định. Thí dụ hỏi: Anh có đi chơi không? Câu trả lời sẽ là hoặc Có hoặc Không. Trong trường hợp này "Có", "Không" là một trợ động từ, vì "Có" là có cái gì? Có (đi chơi). "Đi chơi" là động từ chính. Ngoài ra chữ "Có" trong tiếng Việt có thể hiểu như một động từ. "Có" (posséder, avoir) như sở hữu, có được - "Tôi có hai căn nhà". Chữ "Có" còn có nghĩa là có mặt, hiện hữu (exister) như: Cái bàn có hay không? "Không" là đối lập của "Có".

 

Dù được dùng như trợ động từ hay động từ chính, chữ "Có và Không" vẫn không nằm ngoài hai nghĩa "Khẳng định" và "Phủ định".

 

Nhưng khẳng định là khẳng định cái gì? Phủ định là phủ định cái gì? Không thể khẳng định hay phủ định suông được! Do vậy, "Có và Không" cần phải đi đôi với một túc từ mới đủ nghĩa. Song le, trong đời sống hằng ngày, chúng ta có thể bỏ rơi túc từ cũng không sao, vì trong nội dung câu chuyện ta vẫn có thể hiểu được. Nhưng trong Đạo, lời Kinh thường được dịch theo lối Hán-Việt, và nếu không dùng theo văn phạm Việt Nam thì sẽ gây nhiều hiểu lầm. Đó là trường hợp chữ "Không" của Bát Nhã:

 

"Sắc tức thị Không, Không tức thị sắc!"

 

"Cái bàn có hay không?" Cái bàn có mà không!

 

Nói như vậy ai mà hiểu cho nổi!

 

Chữ Không ở đây nó không phải đối lập với Có nữa mà nó phủ định chuyện khác.

 

Xưa kia, Thần Hội đến viếng Lục Tổ Huệ Năng. Tổ có nói câu:

 

- Ta thấy mà cũng chẳng thấy!

 

Thấy là thấy lỗi lầm nơi tâm mình, chẳng thấy là không thấy những việc phải quấy của người khác. (Nặng mùi Thiền quá nên người đời không thể hiểu)

 

Ở đây đối tượng của thấy và chẳng thấy không phải là một mà là hai thứ khác nhau. Cũng thế "Cái bàn có mà không!" là nghĩa làm sao?

 

Cái bàn không có thật!

 

Hai chữ "có thật" có hai nghĩa, tùy theo Đạo hay theo Đời. Theo Đời, những gì mắt thấy, tai nghe, tay sờ mó được thì gọi là có thật. Theo Đạo Phật thì hai chữ “có thật” không có nghĩa như vậy. "Có thật" có nghĩa là thật tánh, có tự ngã, tự tánh.

 

Thí dụ: Nếu cái bàn có thật thì dù có đem nó ra băm chẻ, thiêu đốt thì nó vẫn là cái bàn, không thay đổi. Trải qua một trăm tỷ năm, không cần ai làm ra nó, không cần ai tạo ra nó mà tự nó vẫn là cái bàn thì đó gọi là có thật. Nhưng thực tế, nếu đem cái bàn ra băm chẻ, thiêu đốt, nó sẽ không còn là cái bàn nữa, và như vậy theo đạo Phật thì cái bàn không có thật.

 

Không có thật còn có nghĩa là không có tự tánh.

Cái bàn có mà không có thật đồng nghĩa với cái bàn có hình tướng mà không có tự tánh. Chữ "Có" ở đây có nghĩa hiện hữu (exister) chứ không phải sở hữu (avoir). Cái bàn có hiện hữu chứ đâu phải không, vì ai nấy đều nhìn thấy nó. Nó do nhiều nhân duyên hợp lại như gỗ, đinh, cưa, búa, v.v... mới thành. Vì do nhân duyên hợp nên không thể tự có một mình được. Sự không thể tự có một mình được gọi là không có tự tánh.

 

Như vậy khi nói "cái bàn có mà không", chữ "có" và "không" ở đây không phải là hai chữ đối đãi trực tiếp như chúng ta thường hiểu mà chữ "Có" nó khẳng định một chuyện (có hiện hữu) và chữ "Không" lại phủ định một chuyện khác (không có tự tánh).

 

Để tránh trường hợp lầm lẫn cho "có" là đối lập của "không" chúng ta có thể thay thế chữ "có" bằng "ảnh hiện". Về chữ "ảnh hiện", có một thí dụ rất hay trong số mười thí dụ nói về pháp Không của Kinh Đại Bát Nhã, đó là ảo ảnh về sóng nắng.

 

Khi đi trong sa mạc, đói khát, nhìn đằng xa, ta thấy có một ao nước. Mừng rỡ chạy vội đến. Nhưng khi đến nơi thì tìm mãi cũng chẳng thấy ao nước nào cả! Ao nước rõ ràng hiện bày trước mắt, nhưng khi tìm lại thì không thấy. Vậy ao nước có hay không có?

 

Nếu bảo là có, vậy sao tìm không thấy?

Nếu bảo là không thì sao mắt lại thấy?

Vậy phải trả lời làm sao đây?

 

 

Câu trả lời dài dòng nhưng đầy đủ ý nghĩa, tức là:

 

Ao nước có ảnh hiện nhưng không có thật

Đây chính là Sắc tức thị Không.

 

Ao nước tuy không có thật nhưng vẫn ảnh hiện

Đây chính là Không tức thị Sắc.

 

Theo Chân Đế tuyệt đối thì các pháp không có thật, không có tự tánh, không thể nắm bắt, nên không sinh, không diệt - tương ưng với chữ Chân Không. Nhưng Chân Đế không lìa Tục Đế. Các pháp tuy không có thật, không có tự tánh, nhưng chúng vẫn duyên khởi, vẫn ảnh hiện và vẫn diệu hữu.

 

 

Phương Pháp Tu Hành

 

Tu tập về Vô Ngã chắc chắn có nhiều phương pháp, nhưng ở đây tôi chỉ xin giới thiệu bạn đọc hai phương pháp mà tôi được học và thực hành. Một phương pháp dùng lý trí suy luận theo Trung Quán và một phương pháp thứ hai là Tứ Niệm Xứ.

 

1/ Theo Trung Quán

 

Sau đây là phương pháp quán chiếu về bốn điểm, hay bốn giai đoạn, một phương pháp thông dụng của phái Hoàng Mạo (Gélugpa), một trong bốn phái chính của Tây Tạng. Phương pháp này tôi được học tại Tu Viện Nalanda ở Lavaur (Toulouse).

 

 Và đây là bốn giai đoạn quán chiếu:

 

1. Nhận rõ đối tượng phủ định.

2. Quyết trạch.

3. Không phải là một.

4. Không phải là khác.

 

Nhận rõ đối tượng phủ định

 

Đối tượng phủ định ở đây chính là cái Ta tự ngã, cái Ta hiện hữu tự tánh.

 

Tới đây tôi xin nhắc lại, có 2 loại Ta:

 

Một cái Ta dường như có thật, hiện hữu tự tánh, không lệ thuộc vào nhân duyên, không lệ thuộc vào 5 uẩn, nó tựa như là chủ của thân và tâm. Chính cái Ta này là một tà kiến, cấu tạo bởi vô minh, nó là cái Ta cần được phủ định. Nó chưa bao giờ có thật mà chúng sinh bám víu vào nó rồi tạo bao nghiệp khổ đau!

 

Cái Ta thứ hai là cái Ta giả lập trên sự phối hợp của 5 uẩn, rất cần thiết để phân biệt, chỉ định sự khác biệt giữa từng cá nhân trong một cộng đồng. Một khi hiểu và phủ định được cái Ta thứ nhất, tức cái Ta tự tánh thì cái Ta thứ hai trở thành vô hại.

 

Cũng cần nói thêm về hai chữ phủ định, hay bác nghị. Đối với một sự vật có thật mà ta từ chối, phủ định cho là không có, thì đó là chấp không hay chấp đoạn. Trong trường hợp cái Ta tự tánh, nó không có thật, chưa bao giờ hiện hữu, nhưng chúng sanh vì vô minh nên cho là có (hiện hữu). Phủ định cái Ta này không phải là từ chối sự thật mà là bác bỏ cái thấy sai lầm.

 

Phủ định được cái Ta này là hiểu Vô Ngã. Vô Ngã có nghĩa là không có cái Ta độc lập hiện hữu.

 

Trước khi muốn phủ định cái Ta này, bạn cần để ý rõ xem nó hiện hữu kiểu nào, khi nào? Nếu không thì chẳng khác gì đi lùng kẻ trộm mà không biết mặt mũi nó ra sao!

 

Khi đi chợ, bạn nói:"Tôi đi chợ". Cái Tôi (Ta) này thuộc loại Ta nào? Thuộc loại giả lập, vì thực tế có một cái thân đi chợ. Cái Ta ở đây được xem như đồng hóa với cái thân, tức liên quan, tùy thuộc vào thân. Như vậy cái Ta này không phải là đối tượng phủ định.

 

Bạn hãy đi tìm trong trường hợp nào, cái Ta xuất hiện hoặc hiện hữu một mình, không dính líu hay tùy thuộc vào thân và tâm. Đó là những trường hợp khi bạn bị đau nhức, mắng chửi, hoặc cảm động, ưa thích.

 

Thí dụ nếu có ai chửi bạn, bạn sẽ cảm thấy khó chịu, tức tối.

 

"Tại sao nó lại chửi Tôi?"

 

Chính ngay lúc đó, nếu để ý, bạn sẽ thấy có một cái Tôi (Ta) hiện hữu rõ ràng như độc lập không ăn nhằm gì đến thân hay tâm cả! Cái Tôi đó bị chửi, bị tổn thương chứ không phải cái tâm hay thân bị chửi.

 

Người ta đâu có chửi thân tôi, người ta đâu có chửi tâm tôi. Người ta chửi "Tôi" mà!

 

Cái "Tôi" này chính là cái Ta tự tánh, cần phải phủ định, vì nó không có thật mà chỉ là một ảo tưởng của tâm.

 

Nhiều khi đi làm về mệt, bạn tự nhủ:

 

"Ta phải nghỉ ngơi để thân, tâm được an ổn thoải mái!".

 

Ngay lúc nói như vậy, bạn có thấy 3 phần không? Đó là cái Ta, đóng vai trò chủ động, và thân, tâm, hai phần này như là thuộc hạ của cái Ta, bị cái Ta sai khiển. Cái Ta này thuộc loại Ta tự tánh, cần được phủ định.

 

 

Quyết trạch

 

Thông thường, một vật nếu hiện hữu, thực có thì hoặc nó là một (unité) hoặc là hai (pluralité). Một có nghĩa là cùng một thứ, hai có nghĩa là khác (distinct). Thí dụ cây bút là một, bông hồng là một, nhưng bông hồng và cây bút là hai, vì bông hồng không phải là cây bút.


 

Thí dụ đi đường, gặp cảnh sát hỏi giấy tờ. Bạn sẽ thò tay vào áo để tìm thẻ căn cước. Áo của bạn có hai túi - phải và trái. Nếu thẻ căn cước có ở trong áo bạn thì nó sẽ phải nằm hoặc trong túi phải hoặc trong túi trái. Nó không thể nào vừa nằm trong túi phải lại vừa nằm trong túi trái được. Thò tay vào túi phải không thấy, thì chắc nó nằm trong túi trái. Và nếu thò vào túi trái không thấy thì bạn phải kết luận rằng thẻ căn cước không có trong áo bạn.

 

Trở về cái Ta độc lập tự tánh. Nơi nào có 5 uẩn là dường như có cái Ta. Nếu nó hiện hữu, có thật thì nó phải hoặc là một hoặc là hai.

 

Một có nghĩa nó là 5 uẩn. Hai có nghĩa là nó khác 5 uẩn.

 

Bạn phải công nhận quyết trạch chỉ có hai trường hợp này thôi, không thể có trường hợp thứ ba, thứ tư nào khác được. Nó không thể nào vừa là 5 uẩn (một) lại vừa khác 5 uẩn (hai) được. Nếu nó không phải là một, cũng không phải là hai thì bạn phải quả quyết rằng nó không có thật, không hiện hữu.

 

Không phải là một

 

Nếu cái Ta tự tánh là một với 5 uẩn, tức nó chính là 5 uẩn. Ở đây có hai trường hợp: Hoặc nó là một với cả 5 uẩn, hoặc nó là một với riêng từng uẩn.

 

a/ Cái Ta là một với cả 5 uẩn: Cái Ta là một. Năm uẩn là hai vì Sắc không phải là Thọ, Thọ không phải là Tưởng, Tưởng không phải là Hành, Hành không phải là Thức. Một không thể là hai được. Nếu cái Ta là 5 uẩn thì 5 uẩn phải là một (thứ), tức Sắc là Thọ, là Tưởng, là Hành, là Thức. Nếu Sắc là Hành thì cái tay phải biết suy nghĩ, nếu Sắc là Tưởng thì ngón chân cũng nhìn thấy được cảnh vật.

Nhưng vì Sắc không phải là Thọ, Thọ không phải là Tưởng, Tưởng không phải là Hành, Hành không phải là Thức nên Một không thể là Hai được.

 

b/ Cái Ta là một với riêng từng uẩn: Nếu Sắc là Ta thì 4 uẩn kia là ai? Nếu Ta là thân thì Ta không thể cùng lúc là tâm được. Bạn hẳn còn nhớ chuyện thẻ căn cước và hai cái túi? Ở đây cần nhắc lại một lần nữa, cái Ta mà chúng ta đang bàn luận không phải là cái Ta giả lập mà là cái Ta hiện hữu độc lập tự tánh. Tự tánh có nghĩa không tùy thuộc vào nhân duyên, tự nó có một mình, tức là một. Mà một thì không thể vừa là cái này vừa là cái kia được.

 

Một số trong chúng ta thường cho tâm là Ta. Nhưng nếu tâm là Ta thì thân là ai? Nếu Ta là tâm thì Ta không thể cùng lúc là thân được, mà nếu không là thân vậy khi đau chân tại sao lại nói: "Tôi đau chân"? Đây là điều phi lý thứ hai.

 

c/ Nếu bảo Ta là một với 5 uẩn, tức là một với thân tâm, vậy sao lại nói: "thân của Tôi", "tâm của tôi"? Nói như vậy có nghĩa là thân, tâm và Tôi là hai thứ khác nhau.

 

d/ Nếu bảo Ta là một với 5 uẩn, là một với thân tâm, vậy khi Ta muốn gì, thì thân, tâm phải như thế ấy chứ! Vậy khi bụng đau, sao Ta không bảo cái bụng hết đau đi?

 

Trên đây chỉ là vài thí dụ phủ định cho thấy rằng cái Ta tự tánh không phải là một với 5 uẩn.

 

Không phải là khác

 

Tới đây xin định nghĩa thêm về chữ "khác". "Khác" có hai loại:

 

1. Khác (distinct) nghĩa là không giống nhau. Thí dụ: Bánh xe "khác" với cái xe, nhưng bánh xe không phải biệt lập với cái xe, vì bánh xe và cái xe vẫn có liên quan với nhau.

 

2. Khác biệt (indépendant, séparé) có nghĩa là hoàn toàn biệt lập, cách lập. Thí dụ: bông hồng và cái xe là hai vật "khác biệt" (distinct et séparé) vì bông hồng không liên quan gì đến cái xe.

 

Cái Ta giả lập khác với 5 uẩn nhưng không khác biệt với 5 uẩn, vì nó là danh từ giả lập của 5 uẩn, tương tự như thí dụ bánh xe và cái xe.

 

Cái Ta đang bàn luận ở đây là cái Ta hiện hữu độc lập tự tánh, và chữ "khác" dùng cho nó bao gồm cả hai nghĩa “khác” và “khác biệt”. Chữ "tự tánh" (nature propre, intrinsèque) quan trọng lắm, vì nếu không hiểu rõ thì pháp quán chiếu này sẽ trở thành một cuộc suy luận trí thức suông. Như đã nói ở trên, tự tánh có nghĩa là tự nó có một mình, không tùy thuộc vào yếu tố, nhân duyên nào khác cả.

 

Nếu cái Ta tự tánh khác với 5 uẩn, tức là giữa hai bên không có sự liên quan nào, thì như vậy ta có thể tách rời đâu là Ta tự tánh và đâu là 5 uẩn. Giống như bông hồng với cây bút là hai, tức hoàn toàn khác biệt nên ta có thể chỉ đâu là bông hồng, đâu là cây bút.

 

Nếu tách rời 5 uẩn ra, bạn có thể chỉ đâu là Ta được không? Không thể được! Như vậy 5 uẩn và Ta tự tánh không phải là hai, không phải khác.

 

Như bạn với cái bàn là hai, tức biệt lập nên khi lấy dao chặt cái bàn bạn đâu có thấy đau. Cũng vậy nếu cái Ta và 5 uẩn là hai, tức khác nhau thì đem dao chặt chân, cái Ta cũng phải không thấy đau chứ! Nhưng thực tế thì sao?

 

Vậy cái Ta và 5 uẩn không phải là hai, cũng không phải khác. Rời 5 uẩn ra không thể tìm đâu là cái Ta được.

 

Đến đây xin tóm lược lại để bạn đọc dễ nhớ về 4 giai đoạn:

 

1. Xác định rõ ràng có cái Ta (tự tánh).

 

2. Nhận định nếu cái Ta có thì nó phải là một hoặc là hai với 5 uẩn (thân, tâm).

 

3. Tìm cái Ta nơi 5 uẩn không thấy.

 

4. Tìm cái Ta ngoài 5 uẩn cũng không thấy.

 

Sau khi tìm kiếm trong 5 uẩn, ngoài 5 uẩn, không thấy cái Ta đâu thì bạn hãy trụ ở trong trạng thái "không thấy Ta" này. Đây có thể gọi là "Vô Ngã thiền" (Meditation du non-soi). Nếu chẳng may, bị vọng niệm khởi lên làm mất trạng thái trên thì bạn phải quán lại từ đầu, tức đi tìm cái Ta xem nó ở đâu. Tìm đến mức không thấy nó đâu thì bạn lại trụ ở trong trạng thái "không thấy Ta" đó càng lâu càng tốt. Trong trạng thái này, không phải là không có gì, ngoan không (néant, nothingness) mà nó chỉ là trạng thái "không thấy có Ta". Trụ trong trạng thái này càng lâu thì sự bám víu vào cái Ta tự tánh càng tiêu mòn. Sau khi xả thiền, bạn vẫn đi đứng, nằm ngồi, nói năng, nhưng cái dư lực (effet) của "Vô Ngã thiền" sẽ khiến tâm bạn không còn lầm tưởng vào sự hiện hữu thật có của cái Ta tự tánh nữa, mà nó thấy rõ chỉ có cái Ta giả lập mà thôi.

 

Vấn đề trọng yếu đầu tiên của phép quán này là phải hiểu rõ sự khác biệt giữa hai cái Ta: cái Ta hiện hữu tự tánh và cái Ta giả lập. Nếu hiểu thì sự quán chiếu mới có căn bản và kết quả. Cũng cần phân biệt giữa hiểu (giải, liễu) và thành tựu (chứng đắc). Hiểu Vô ngã là hiểu và tin chắc không có cái Ta tự tánh, nó không có nghĩa là đắc đạo thành A La Hán hay Bồ Tát liền. Hiểu mới chỉ là bước đầu, cần phải tiếp tục tu tập quán chiếu không ngừng cho đến khi hoàn toàn thâm nhập Vô Ngã, nhắm mắt, mở mắt, đi đứng, nói năng, tất cả thời đều không thấy có cái Ta tự tánh, tâm luôn như ở trong "Vô ngã thiền", đấy mới được xem là chứng đắc hay thành tựu Vô Ngã. Xin bạn đọc cẩn thận vì đây không phải là việc dễ làm. Tu hành nói lý thì dễ, nhưng thực sự tu tập sẽ thấy rất là khó!

Thứ Bảy, 22 tháng 8, 2026

MỘT CÁCH NHÌN KHÁC VỀ VAI TRÒ CỦA VẦN TRONG THƠ

 Lan Man Về Cái Tôi

 

Để có thể thích ứng và hội nhập với cuộc sống hàng ngày của cộng đồng mỗi con người đương đại phải tuân thủ rất nhiều nguyên tắc giao tiếp, ứng xử trong xã hội. Xã hội càng văn minh số lượng nguyên tắc càng nhiều. Sau khi vào đời một thời gian (dài ngắn tùy hoàn cảnh riêng) trong mỗi thân xác con người có 2 cái tôi cùng chung sống nhưng luôn đấu đá lẫn nhau để đòi quyền làm chủ thân xác đó: “Cái tôi đích thực” và cái tôi hội nhập với cuộc đời – tôi tạm gọi là “cái tôi văn hóa”.

 

Tuổi đời càng cao “cái tôi văn hóa” càng mạnh, càng rõ nét và “cái tôi đích thực” càng yếu kém, mờ nhạt. Đến một lúc nào đó “cái tôi văn hóa” sẽ đè bẹp “cái tôi đích thực” để độc quyền chiếm hữu cái thân xác kia. Lúc ấy, nói như Jean Paul Sartre (1) thì con người là một “kẻ vong thân” (đánh mất chính mình). Còn nói như Albert Camus (1) thì con người đích thực đã bất lực - để một “kẻ xa lạ” đến chiếm hữu thân xác mình.

 

Hai Trường Hợp “Đánh Mất Cái Tôi”

 

1/ Tại các nước dân chủ tự do: Con người dạy bảo nhau tạo phong cách lịch thiệp trong giao tiếp, xây dựng nếp sống văn hóa, văn minh để hội nhập vào dòng phát triển của nhân loại. Lâu dần “cái tôi văn hóa” sẽ che khuất “cái tôi đích thực”. Con người chỉ còn là một “cỗ máy” do lý trí điều khiển. Mọi suy nghĩ, hành động đều là phản ứng (có điều kiện) của “cỗ máy” “cái tôi văn hóa” trước hoàn cảnh xã hội. Đây là nỗi băn khoăn, lo ngại của các triết gia phương tây về thân phận con người.

 

2/ Tại các nước độc tài chuyên chế: “Cái tôi đích thực” bị một cổ 2 tròng, vừa bị “cái tôi văn hóa” chèn ép, vừa bị nỗi sợ cường quyền ám ảnh nên nhiều lúc phải hóa trang thành một cái tôi khác mà tôi xin phép gọi là “cái tôi teo chim”. (Tôi hoàn toàn không có ý “xách mé” gì những người làm công tác văn học ở trong nước mà chỉ muốn nhắc tới một thực tế không được vui về hoàn cảnh của nhà văn, nhà thơ Việt Nam trong đó có nhiều người tôi rất kính trọng và quý mến).

 

Giữa “cái tôi văn hóa” và “cái tôi teo chim” thì “cái tôi teo chim” mạnh hơn, có uy thế hơn nhiều. Nghĩ đến chết chóc, tù đày, gia đình bị tước đoạt mọi phương tiện, nguồn sống, ngòi bút của thi sĩ đôi lúc phải cong lại hoặc vừa viết lại vừa phải “lách”.

 

Trong các tác phẩm của Nguyễn Khải “cái tôi teo chim” đã che khuất “cái tôi văn hóa” nên ông nhà văn của chúng ta vào cuối đời đã phải la toáng lên “Đi Tìm Cái Tôi Đã Mất” và phải chờ đến đúng ngày sau khi xác thân mình đã nằm dưới huyệt vợ con mới được chuyển cái thông điệp thương tâm ấy đến mọi người.

 

Thông điệp trong Bánh Vẽ của Chế Lan Viên mạnh hơn, triệt để hơn, nên thời gian chờ đợi lâu hơn - chết rồi cũng chưa yên tâm - phải sau mấy lần “giỗ” mới được xì ra ngoài. Nói như nhà thơ Nguyễn Khôi là “kiểu để hạ cánh an toàn một cách chắc chắn đã”.

 

Lý Trí: Kẻ Thù Của Thi Sĩ Trong Lúc Làm Thơ

 

Thi sĩ làm thơ trong lúc tỉnh táo quá thì những điều viết ra sẽ được cân nhắc, suy hơn, tính thiệt kỹ càng. Đó sẽ là những vần thơ phải đạo được “đạo diễn” bởi “cỗ máy biết suy nghĩ” -  “cái tôi văn hóa”. Nếu thi sĩ có kỹ thuật thơ cao cường – ngôn từ trong sáng, thế trận chữ nghĩa chặt chẽ, hiệu quả - thì thơ vẫn có cảm xúc, vẫn có thể “hay” nhưng không có Hồn.

 

Khi thi sĩ thật cao hứng, lên cơn điên vì yêu, hận (giận), vui sướng, buồn bã, ghen ghét, ham muốn … cảm xúc sẽ sôi lên phủ mờ lý trí, “cái tôi đích thực” sẽ vùng dậy đẩy “cái tôi văn hóa” (và “cái tôi teo chim”, nếu có) vào bóng tối để dành quyền “đạo diễn” bài thơ của mình. Thi phẩm viết ra trong tâm cảnh ấy sẽ chẳng màng đến chính kiến, lập trường, truyền thống, đạo đức, lễ giáo, thước đo giá trị của người đời … mà chỉ là những gì tuôn trào ra ngòi bút bởi “cơn điên” của thi sĩ đang thôi thúc trong lòng.

 

Lúc ấy kỹ thuật thơ vẫn mang dáng dấp đẳng cấp của thi sĩ nhưng lời thơ, tứ thơ – không còn bị chi phối bởi cái tôi văn hóa - sẽ là tâm tình chân thật của “cái tôi đích thực”. Nếu thi sĩ chọn được thể thơ thích hợp, tứ thơ sẽ chảy thành dòng, cảm xúc ở tầng 3 (2) sẽ lớn mạnh, bài thơ sẽ có hồn. thông điệp của thi sĩ sẽ đi vào lòng độc giả một cách dễ dàng.

 

Khi trạng thái cao hứng, “lên cơn” của thi sĩ “xẹp” xuống, cảm xúc nguội dần, lý trí sẽ xuất hiện, lời thơ ít nhiều cũng sẽ ẩn chứa sự “khôn ngoan, khéo léo”, sẽ bớt chân thật, câu thơ sẽ nhạt, hồn thơ sẽ lặng lẽ ra đi.

 

Một Chút Trải Nghiệm Cá Nhân

 

Tôi đang sống trên nước Mỹ

đất nước tự do

làm thơ

không phải lấm lét nhìn trước, ngó sau

nỗi lo sợ theo vào

cả trong giấc ngủ

giật thót mình nghe tiếng chó sủa

ban đêm (3)

 

Nhưng sao trước mặt vẫn chập chờn

những bóng ma quá khứ

ánh mắt van lơn

bàn tay níu giữ

khiến đã biết bao lần

dòng thơ đang băng băng tuôn chảy

phải khựng lại

luồn lách qua hướng khác

 

Để có thể hết lòng hết dạ

trọn tình trọn nghĩa

với Nàng Thơ

tôi

tay cầm bút viết

tay nắm dao quơ

đuổi, giết bằng sạch những hồn ma, bóng quỷ

(truyền thống, khuôn phép lễ giáo, thước đo giá trị

của người đời)

 

Trên trang thơ của mình

tôi chỉ trung thành

với nhịp đập

của chính trái tim tôi.

(Yêu Thơ Nên Phải Hết Lòng Với Thơ, PĐN, phamnhibinhtho.blogspot.com)

 

Thú thật, tôi đã nhiều lần bị “cái tôi văn hóa” bất ngờ xuất hiện che lấp trang thơ đang viết dở của mình. Đó là lúc hết hứng, cơn điên đã “xẹp”. Lúc ấy nói:

 

Trên trang thơ của mình

tôi chỉ trung thành

với nhịp đập

của chính trái tim tôi

 

thì rất dễ nhưng thực hiện lại vô cùng khó khăn. Muốn viết tiếp bài thơ khi cơn điên đã “xẹp” mà không phản bội nhịp đập của chính trái tim mình là một điều vô cùng khó. Chỉ có cách vứt bài thơ vào sọt rác hay chờ đợi một cơn điên khác – mà điều sau này cũng ít xảy ra.

 

Tôi cũng đã gặp những bài thơ “nửa điên nửa tỉnh” - đoạn đầu khá nhiều cảm xúc, đoạn sau khô khan, nhạt nhẽo, đọc chán phèo. Đó là trường hợp tác giả hết hứng nhưng “tiếc của giời” cố viết cho xong bài thơ.

 

Tại Sao Thơ Nên Là Món Ăn Nhẹ Dễ Tiêu?

 

Tiêu: Nhập vào hồn mà không cần, hoặc cần rất ít lý trí

 

Hiểu: Có thể “bắt được ý tứ” nhưng phải mời gọi lý trí. (Lắm khi phải ngẫm, nghĩa là phải mời gọi rất nhiều lý trí)

 

Một lần chạy xe Honda (2 bánh) từ Cầu Rào đến phi trường Cát Bi (Hải Phòng) tôi gặp một tấm bảng chỉ đường kích thước khoảng 30 x 40 cm trên viết đến chục hàng chữ đầy cả tấm bảng. Xe dừng lại (vì đèn đỏ) ở cách bảng 20 mét, tôi muốn đọc để biết tấm bảng chỉ dẫn điều gì cũng chỉ “chữ được chữ mất”. Còn nếu đang lái xe trên đường thì có thể nói “tấm bảng ấy có cũng như không”.

 

Ở Mỹ tôi có người bạn làm ở ngành giao thông (Department of Transportation) của tiểu bang Texas. Nhiệm vụ của anh bao gồm cả việc thiết lập và bảo trì những bảng chỉ đường trên các trục lộ giao thông.

 

Anh cho biết tất cả những bảng chỉ đường hoặc cắm bên vệ đường hoặc treo băng ngang xa lộ - từ kích thước tấm bảng cho đến kích cỡ kiểu chữ và các ký hiệu bằng hình, màu sắc - đều được nghiên cứu kỹ lưỡng để người lái xe liếc qua là có thể tiếp nhận thông tin một cách nhanh chóng hầu kịp thời ứng xử với tình huống được cảnh báo ở phía trước.

 

Sau khi đường được nâng cấp – có thể nâng tốc độ của phương tiện di chuyển (thí dụ từ 45 lên 60 dặm/giờ) – thì những bảng cảnh báo phải cắm lùi lại (hoặc tăng kích cỡ) để người lái xe (với tốc độ mới) có đủ thời gian tiếp nhận thông tin và chuẩn bị ứng phó với tình huống mà bảng chỉ đường đã cảnh báo.

 

 

Với thơ cũng vậy. Đọc thơ là thả hồn mình theo dòng chảy của tứ thơ để cảm nhận tâm tình của tác giả. Mỗi câu thơ, trong chức năng truyền thông, còn là tấm bảng chỉ đường dẫn dắt độc giả đi một đoạn trên lộ trình của bài thơ.

 

Nếu dòng chảy của tứ thơ nhanh mà câu thơ lại khó tiêu - giống như bảng chỉ đường khó đọc, khó hiểu - độc giả hoặc là chạy quá (và đi lạc) hoặc phải tạm ngừng, đọc đi đọc lại để hiểu ý tác giả. Cuối cùng dù có hiểu được chăng nữa thì cũng mất hứng, tiến trình thưởng thức thơ không được suôn sẻ, ảnh hưởng đến mức độ thành công của bài thơ.

 

Sau đây là một số đoạn thơ từ Dễ đến Khó Tiêu (chỉ là những thí dụ tượng trưng):

 

1/ “Thi” rất gần với “họa”:

 

Quê hương là chùm khế ngọt
Cho con trèo hái mỗi ngày
Quê hương là đường đi học
Con về rợp bướm vàng bay

(Bài Học Đầu Cho Con, Đỗ Trung Quân)

 

Đây là loại thơ dễ tiêu nhất vì ngôn ngữ gần như đã tan biến, hóa thân vào trong tranh, đi thẳng vào tâm hồn độc giả. Lý trí thất nghiệp.

 

2/ Thi trung hữu họa: Trong thơ có tranh.

 

Áo nàng vàng anh về yêu hoa cúc
Áo nàng xanh anh mến lá sân trường
Sợ thư tình không đủ nghĩa yêu đương
Anh thay mực cho vừa màu áo tím...

(Tuổi Mười Ba, Nguyên Sa)

 

Chữ nghĩa có tranh minh họa nên dễ cảm nhận, lý trí có kiểm soát nhưng ở mức độ rất thấp.

 

3/ Show, Don’t Tell (Gợi, Không Kể): Đưa ra dữ kiện để độc giả tự “suy ra” và cảm nhận tâm trạng.

 

Nhà giai thuê chín chiếc đò đón dâu
Nhà gái ăn chín nghìn cau

Tiền cheo, tiền cưới chừng đâu chín nghìn
Lang thang tôi dạm bán thuyền
Có người giả chín quan tiền, lại thôi.

 

Độc giả “bắt” được, hiểu được những dữ kiện tương đối dễ dàng nên có thể thả hồn theo dòng chảy của tứ thơ. Đến câu cuối, tùy độ nhạy bén của tâm hồn, độc giả có thể hiểu được ẩn ý của tác giả từ sau vài giây đến vài phút. Lúc ấy cảm giác thích thú sẽ tăng lên gấp bội.

 

4/ Thơ không vần, ý tứ mù mịt, khó hiểu:

 

Trên sông Tiền Đường bình lặng, Thúy Kiều ngồi ở đầu thuyền gởi khúc hồng nhan bạc mệnh vào thiên cổ. Nàng đã vứt vào sọt rác những con cu thối và trở về. Trong ánh sáng khai nguyên của các thần linh, âm hộ nàng trong suốt. Và reo vui. Không phải vì trái tim nàng đã được lau chùi bằng nước mắt và tóc. Không phải vì sự đền đáp của hư vô. Nàng vui vì non tơ xanh rợn chân trời (của lông). Không có máu. Không có nước nhờn và trứng. Không có bất cứ điều gì. Nhưng bởi vì âm hộ nàng trong suốt, nó phản chiếu bầu trời ráng đỏ, những đám mây hình thù cổ quái và một ngọn gió vừa lướt qua mang theo hơi thở của muôn vàn sinh linh.

 (Và Bởi Vì Âm Hộ Nàng Trong Suốt, Nguyễn Viện, Tiền Vệ)

 

Tôi chỉ trích một đoạn. Nếu độc giả muốn đọc cả bài, xin bấm link dưới đây.

https://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&artworkId=16129

 

Nguyễn Viện là một nhà thơ thành danh trong việc làm mới thơ trên trang tienve.org. Nhưng với tôi, bài thơ của ông quá khác biệt với những gì tôi gọi là Thơ.

 

Nếu đưa ngôn từ có tính học thuật, hàn lâm, triết lý (nặng chất trí tuệ) vào thơ để chuyển tải một ý tưởng cao siêu, một trạng thái tâm lý phức tạp nào đó thì người đọc sẽ “chậm tiêu”, khó cảm và sẽ tạo cơ hội cho lý trí xen vào gây rắc rối cho tiến trình thẩm thấu thơ.

 

Lúc ấy chức năng truyền thông của bài thơ, nếu may mắn lắm cũng chỉ thành công một nửa - độc giả có thể hiểu (nếu uyên bác hoặc đọc kỹ) nhưng khó cảm được tứ thơ và bài thơ bị coi là thất bại.

 

Nói như thế không có nghĩa không thể dùng thơ để diễn tả một ý tưởng cao siêu. Ý tưởng cao siêu nên là cái đích cuối cùng, còn ngôn ngữ, lời thơ dẫn độc giả đi đến cái đích ấy nên đơn giản, dễ hiểu và dễ cảm.

 

Hơn nữa trong Và Bởi Vì Âm Hộ Nàng Trong Suốt không có cái tôi riêng tư, tâm của tác giả chưa nhập vào cảnh thơ nên, theo tôi, nó chưa xứng đáng với danh hiệu thơ.

 

Vai Trò Của Vần Trong Thơ

 

Với thi sĩ, vần giúp xâu kết những ý tưởng, sự kiện, những mảnh tâm tình khiến bài thơ liền mạch, nhất khí. Trong bài thơ có vần (ngoại trừ thể thơ mới trường thiên từng đoạn 4 câu) cảm xúc tuôn chảy thành dòng, lớn mạnh nhanh chóng nhờ “sóng sau dồn sóng trước”. Khi thi sĩ đang cao hứng, “lên cơn”, dòng cảm xúc liền mạch, trôi nhanh đó giúp tứ thơ tuôn trào, không có “thời gian chết” để lý trí xuất hiện, tạo cơ hội cho hồn thơ hình thành.

 

Với độc giả, vần là thuốc dẫn, là thứ “dầu bôi trơn” giúp thông điệp của bài thơ theo dòng cảm xúc trôi nhanh vào hồn. Nhờ thứ “dầu bôi trơn” ấy ông (bà) ta “cảm” được tâm tình của thi sĩ một cách dễ dàng hơn, (có thể) không phải trải qua tiến trình suy nghĩ, tránh được (hoặc giảm thiểu) sự chen vào can thiệp của lý trí để cuối cùng có thể bắt gặp hồn thơ (nếu có).

 

Nhưng vần là con dao hai lưỡi; nếu vần quá đậm thì bài thơ sẽ mắc phải “hội chứng nhàm chán vần” đọc rất “ầu ơ”, dễ ngán.

 

 

Chè Đường

 (Vị ngọt của thơ)

 

Tôi thích chè

chè ngọt

bởi có đường

đường ít

chè không đủ ngọt

không ngon

đường nhiều

ngọt lợ

ăn gắt cổ.

 

Nấu chè ngon do đó,

cũng cần có tài

ngoài việc phải biết chọn các thứ đậu, dừa, bột, nếp,

các thứ khoai

(thứ nào nấu với thứ nào

liều lượng bao nhiêu thì hợp)

còn phải biết

nêm đường cho vừa ngọt

 

Chè có món có thể nêm đường kha khá

có món ít đường một chút cũng không sao

nhưng đã là chè thì phải có đường

nấu chè

nếu không nêm đường

thì chè sẽ không còn là chè nữa

mà thành món khác.

(Phạm Đức Nhì

 

Vâng! Đúng vậy. Nếu không có vần (vị ngọt của thơ ca) thì Thơ sẽ không còn là Thơ nữa mà thành Thứ Khác.

 

Kết Luận

 

Đối với bạn đọc yêu thơ, tôi có một tin vui muốn chia sẻ với các bạn.

 

Nếu có một giây phút nào đó trong đời, bạn đọc hoặc nghe được một bài thơ có hồn (ý nói hồn thơ lai láng) và chính bạn cũng cảm được cái hồn của bài thơ đó, thì chính giây phút đó bạn là một trong số rất ít người may mắn trên thế giới; bạn đang được giao tiếp với đồng loại của mình bằng ngôn ngữ của “Con Người” (Viết Hoa), từ “cái tôi đích thực” chứ không phải từ những cỗ máy di động mà suy nghĩ, lời nói hay cung cách giao tiếp chỉ là phản ứng có điều kiện trước hoàn cảnh xã hội. Như thế không phải là điều vô cùng sung sướng hay sao?

 

Và thi sĩ sáng tác bài thơ có hồn đó đã ban ơn cho nhân loại, cho người yêu thơ cơ hội được đọc, nghe tiếng người từ con người đích thực. Và như thế không phải là đại phúc hay sao?

 

Và để đạt được cái Phúc lớn lao ấy Vần (vị ngọt của thơ ca) đã đóng góp một phần công sức không nhỏ.

 

Phạm Đức Nhì

nhidpham@gmail.com

https://lythuyetthoabc.blogspot.com/

 

 

Chú Thích:

 

1/ Đều là đại diện của Chủ Nghĩa Hiện Sinh

    Tác phẩm tiêu biểu:

     Jean Paul Sartre:  La Nausée (Buồn Nôn)

     Albert Camus: L’Étranger (Kẻ Xa Lạ)

 

2/Ba tầng cảm xúc

     a/ Tầng 1: Do câu chữ

     b/ Tầng 2: Do thế trận của tứ thơ

     c/ Tầng 3: Do trạng thái cao hứng, “nổi điên” của thi sĩ. Đây chính là Hồn Thơ (nằm ngoài chữ nghĩa)

 

3/ Vâng, chính tôi (PĐN) cũng đã từng làm thơ (ở VN) khi “cái tôi văn hóa” và “cái tôi teo chim” cùng chiếm hữu thân xác mình.

Thứ Tư, 29 tháng 7, 2026

NHIỄM THƠ - MỘT CÁCH NÂNG CAO TAY NGHỀ

 

Cách đây mấy ngày Facebook có đăng lại một kỷ niệm từ 3 năm trước – bài thơ Thi Sĩ Và Người Tình - tôi viết đã rất lâu. Phía dưới bài thơ ấy, ở dạng bình luận là bài “Nhiễm Thơ” của Vân Anh. 

Kỷ niệm này, xem kỹ lại, xảy ra sau NHỮNG ĐÓA HOA HỒNG CHO NGƯỜI BÌNH THƠ 6 tháng. Khá đông bạn đọc ghé thăm và bình luận qua lại trong đó có Vân Anh và dĩ nhiên, cả tôi nữa.

 

THI SĨ VÀ NGƯỜI TÌNH

 

Buổi sáng trời se lạnh

anh dậy sớm

ngồi viết vội mấy vần thơ

vừa chợt hiện ra

sau một đêm dài ngon giấc

 

Bỗng thấy hương thơm ngào ngạt

em vẫn trong áo ngủ

đem đến cho anh tách cà phê

ngun ngút nóng

hai đứa vai tựa má kề

cà phê chưa uống đã nghe lòng rất ấm

 

Em choàng tay ôm vai anh

giọng nũng nịu, mắt mơ màng

“Anh đang làm thơ về đất nước, quê hương

hay công cha, nghĩa mẹ?

Về những năm tháng ngục tù

hay tình yêu đôi lứa?”

 

“Em ơi!

dù có viết về đề tài gì đi nữa

thơ anh ít nhiều

cũng thấp thoáng bóng hình em.”


 Phạm Đức Nhì

 

NHIỄM THƠ

 

Ngày xưa em chẳng biết gì về thơ

chẳng thể hiểu nước tràn bờ vỡ bọt

chỉ quanh quẩn bữa ăn, manh áo

thỉnh thoảng còn lấy bản thảo của anh

mồi lửa thổi cơm...

 

Rồi những lần anh kể về thơ

em là kẻ ngu ngơ

lạc vào lớp cao học

chưa nghe gì mà như vỡ óc

cái gì trong ấy khiến anh ?

 

Vậy mà cũng thành quen

như sóng biển vỗ về

em bắt đầu nghe êm ái

chập chững những bước đi khờ dại

em lân la tập làm thơ

 

Vẫn biết mình dại khờ

trong cái biển thơ anh lai láng

nhưng em yêu là bởi vì năm tháng

thấy bóng dáng mình thấp thoáng trong anh.

 

VÂN ANH

 

Cảm Nhận Ban Đầu

 

Liếc qua phần thi pháp của Nhiễm Thơ, ngay từ 3 năm trước, tôi đã “cảm” được chữ “anh” trong hai câu cuối

 

nhưng em yêu là bởi vì năm tháng

thấy bóng dáng mình thấp thoáng trong anh

 

Vân Anh đã ưu ái dành cho tôi.

 

Lý do: “Cái nền kỹ thuật căn bản” của hai bài thơ rất “gần gũi”. Nhưng nghĩ là nghĩ vậy thôi chứ chưa dám nhận. Lỡ mình nghĩ sai, người ta bảo “nhận vơ” thì “quê” lắm.

 

Trao Đổi Thêm Vài Bình Luận

 

Vì thế, tôi chỉ dám bình luận bâng quơ:

Cám ơn Vân Anh đã có bài thơ “đối đáp” thật tuyệt vời.

 

Và được chị trả lời:

Cảm ơn Anh, người dẫn đường và truyền cảm hứng.

 

À! Chị đã tặng tôi danh hiệu “người dẫn đường và truyền cảm hứng”. Như vậy, đã có thêm một chút hy vọng. 

Để tiến xa hơn, tôi viết thêm một bình luận nữa: 

Đọc đoạn cuối bài Nhiễm Thơ anh thấy mắc nợ em nhiều quá. Đó là chưa kể Hai Đóa Hoa Hồng Cho Người Bình Thơ mấy năm trước. Không biết đến bao giờ…?

Thay vì “like” chị đã tặng hẳn một “trái tim đỏ chói”.

Tôi bèn đưa ra một lời khen khác.

 

Hai câu kết của anh:

 

“Em ơi!

dù có viết về đề tài gì đi nữa

thơ anh ít nhiều

cũng thấp thoáng

bóng hình em”

 

mà gặp hai câu của em:

 

“nhưng em yêu là bởi vì năm tháng

thấy bóng dáng mình thấp thoáng trong anh”.

 

thì đành cúi đầu chịu thua. Mà em vừa đọc xong đã bình luận liền mới đáng 

“sợ”chứ.

 

Vân Anh phản hồi:

 

Hoá ra chúng ta “sợ thơ nhau”.

 

Thấy thời cơ đã chín mùi tôi tung ra “chiêu quyết định”

 

Vân Anh ơi!

Đọc đoạn thơ Bình Luận của em:

 

Theo thời gian, vạn vật đều thay đổi

câu chữ anh giờ đã rêu phong dáng em

nắng nhạt bên thềm

hoàng hôn đứng đợi

thơ anh vời vợi

còn em xa xăm

thỉnh thoảng nhớ những tháng năm

Kề vai tựa má, nũng nịu vào thơ

Ngu ngơ mà hạnh phúc.”

 

thấy cách bố trí câu chữ, lối gieo vần, tài khơi dòng chảy cho tứ thơ… muốn đòi “tiền tác quyền” quá. Nhưng sợ người ta không chịu trả mà còn bắt mình trả ngược lại thì… khốn. Nên đành cho qua.

 

Vân Anh trả lời ngay:

 

Em sẽ không trả đâu

nợ chồng nợ. biết đâu đấy... thành duyên

nên chi tác quyền

xin khất anh.... “mùa quýt”

 

Như vậy, cuối cùng thi sĩ đã chấp nhận nợ tiền tác quyền, nghĩa là “cảm nhận ban đầu” của tôi đã đúng.

 

Không Phải Chỉ Từ Những Bài Bình Thơ

 

Đọc đến đây đọc giả chắc đã nhận ra là cô giáo Vân Anh không những có thể “nâng cao tay nghề” của mình từ “hương hoa” của những bài bình thơ mà còn biết cách “nhiễm thơ” từ thi phẩm của những nhà thơ mà chị cho là vững vàng về thi pháp. Nói cách khác, là bắt chước thi pháp của những bài thơ chị thích.

 

Xin đừng lầm lẫn giữa "đạo thơ" và "nhiễm thơ".

 

Đạo thơ: “Chôm” ý tứ, ngôn từ, câu cú, cách diễn đạt một hình tượng thơ của người khác.

 

Nhiễm thơ: Ảnh hưởng những “thói quen tốt” về thi pháp như:

 

Thể thơ nhất khí liền mạch.

Sử dụng vần vừa độ ngọt - cần nhấn mạnh thì tăng độ ngọt.

Số chữ trong câu thay đổi để tránh nhịp điệu đều đều, tẻ nhạt.

Chọn chữ kỹ lưỡng để tránh mô gò cản đường

Tránh vờn bóng giữa sân (cà kê dê ngỗng)

Cho dòng tứ thơ, dòng âm điệu, dòng cảm xúc – ba dòng nhập một để dễ tạo hồn thơ.

 

Đây chính là “cái nền kỹ thuật căn bản” của bài thơ đã nói ở trên.

 

Vân Anh Đã Thành Công.

 

Trong “Nhiễm Thơ” Vân Anh đã bắt chước những “thói quen tốt” về thi pháp của Thi Sĩ Và Người Tình và đã tạo được “cái nền kỹ thuật căn bản” cho bài thơ của mình – không những không thua kém bài thơ mẫu mà còn có chỗ nổi trội hơn ở cách gieo vần.(1)

 

“Bài thơ bắt chước” của chị còn “bề thế” hơn – 16 câu, 123 chữ - cũng có “sóng sau dồn sóng trước” và hồn thơ đã xuất hiện với cường độ trung bình. (2)

 

Mặc dù “nhiễm thơ” là chuyện thường xảy ra và chẳng có gì sai trái (đáng khuyến khích là đàng khác) nhưng nhiều thi sĩ vẫn còn “ngại”, không muốn lộ chuyện “bắt chước” của mình.

 

Riêng Vân Anh đã dũng cảm công nhận làm việc đó bằng một bài thơ duyên dáng. Điều đáng nể phục là chị đã có kỹ năng và cao hứng để hoàn tất bài thơ chỉ trong 27 phút.(3)

 

Sau đó chúng tôi đã có một cuộc video chat cởi mở tâm tình.

 

Kết Luận

 

Hôm sau, vẫn còn “bàng hoàng” về một bài thơ “bề thế” được viết chỉ trong 27 phút, tôi nhắn tin cho Vân Anh:

 

Bài “Nhiễm Thơ” em viết có 27 phút thôi sao?

Thì anh đăng, em thấy thì họa.

Viết nhanh quá

Mấy phút em cũng không rõ

Anh phục em luôn

Thấy anh đăng thì nguệch ngoạc họa thôi

Bái em là sư phụ

Dạ, em cũng bái anh

Nên mới thân thiết thế này.

 

Vâng đó là sự thân thiết của hai hồn thơ giao cảm.

 

Phạm Đức Nhì

nhidpham@gmail.com

 

CHÚ THÍCH:

 

1/ Đây là đoạn “gieo vần tài hoa” của Vân Anh. Chị đã tăng độ ngọt của vần ở đoạn cuối để câu chữ kết dính chặt chẽ hơn, cả 3 dòng chảy tứ thơ, âm điệu, cảm xúc cùng lên cao trào dễ dàng hơn.

 

……………

 

cái gì trong ấy khiến anh ?

 

Vậy mà cũng thành quen

như sóng biển vỗ về

em bắt đầu nghe êm ái

chập chững những bước đi khờ dại

em lân la tập làm thơ

 

Vẫn biết mình dại khờ

trong cái biển thơ anh lai láng

nhưng em yêu là bởi vì năm tháng

thấy bóng dáng mình thấp thoáng trong anh.

 

2/ Bài Thi Sĩ Và Người Tình chỉ có 116 chữ.

 

3/ Theo Facebook thì Thi Sĩ Và Người Tình đăng lúc 7:22 ngày 05 tháng 10/2019, Nhiễm Thơ đăng lúc 7:49 ngày 5 tháng 10/2019