Thứ Sáu, 7 tháng 2, 2020

CÓ ĐÚNG LÀ "VĂN CHƯƠNG CÀNG HAY CÀNG XA SỰ THẬT"?







                           


Lời Nói Đầu
                      
Trong thời gian tra cứu để viết lời bình cho bài thơ Tan Vỡ của nhà thơ Dư Thị Hoàn tôi đọc được bài viết “Dư Thị Hoàn: Từng Có 'Tan Vỡ' Gây Chấn Động, Xuất Hiện Sau 10 Năm Đi Tu.” (1)

Trong bài viết có đoạn:

Ba năm trước, Dư Thị Hoàn tổ chức lễ “rửa tay chậu vàng”, có nhiều bạn bè văn chương chứng kiến, tuyên bố không viết, không tham gia văn đàn.
Trong một cuộc phỏng vấn, nhà thơ chia sẻ, thực ra quyết định “bẻ bút” có từ trước đó, khi bà đọc được câu “Văn chương càng hay càng xa sự thật”.

Vì là người làm thơ và bình thơ nên trong bài viết này tôi sẽ chỉ đề cập đến khía cạnh thơ của câu nói trên. Các thể loại văn học khác xin mời những cao nhân có kiến thức và kỹ năng thích hợp lên tiếng.


Thi Sĩ Có Xạo Không?

Câu trả lời là CÓ. Tuyệt đại đa số đều xạo. Có nhiều kiểu xạo, nhiều lý do để xạo.  

Sau đây là một số kiểu xạo trong thơ:

Dối Trá Đời Thường

 1/ Xạo vì hèn, vì “teo chim” - tham sống sợ chết, thích yên thân, sợ tù đày, sợ bị trù dập - sản sinh những câu thơ Nịnh.

 2/ Xạo vì tham lợi, tham danh - viết sai sự thật vì danh vọng, vì bả vinh hoa phú quý.

Đây là 2 kiểu xạo tệ nhất, làm đục, làm bẩn “dòng sông thơ ca”.

3/ Xạo vì tình riêng – thơ về cha mẹ, vợ chồng, họ hàng, bạn bè thân thuộc…

4/ Xạo vì xã giao - thơ đám ma, đám cưới, mừng sinh nhật, đỗ đạt, thăng quan tiến chức

Đây là 2 kiểu xạo mà người đọc dễ “thông cảm” cho qua, nhưng thơ thường được đánh giá thấp.

 5/ Xạo vì lập trường, quan điểm, đứng về một phía của một vấn đề hai mặt, chỉ nói một nửa sự thật.

“Ôi! Đẹp quá phe mình, còn phe bên kia
Phải chọn góc nhìn để chỉ thấy toàn điều xấu.” (2)

Thơ loại này đây đó cũng có bài hay nếu tác giả vững tay nghề và cao hứng.


    
Xạo Nghệ Thuật

 1/ Lối nói thậm xưng

Khác với dối trá đời thường (trong thơ), lối nói thậm xưng là một kiểu “xạo” đầy tính nghệ thuật. Tác giả cũng “phịa” ra những điều không thật nhưng với mục đích “để tạo sự đột phá, thay đổi cái trật tự đời thường bằng cái phi lý mà có lý trong nghệ thuật” 

Thí dụ:

Trong bài thơ Muốn Gởi Cho Em của thi sĩ Phạm Hữu T (tặng Phượng Kim Ngọc Huỳnh) thì câu:

Muốn gởi cho em
chút gió biển Galveston

là một câu “xạo tới bến” vì gió từ biển Galveston (ở Mỹ) làm sao gởi về Việt Nam được? Nhưng phần sau của đoạn thơ lại là những cái “có lý trong nghệ thuật”.

Gió từ Mỹ gởi về:

để dịu bớt cái nắng Sài Gòn gay gắt.

Có lý quá đi chứ! Và hai câu kế tiếp:

nhưng sợ người ta đang đi mà chợt mát
rồi bồi hồi
nhớ nhớ thương thương.

vừa trữ tình vừa lãng mạn - khi mượn ý của Nguyên Sa trong Áo Lụa Hà Đông -  lại vừa khôi hài ý nhị. Đoạn thơ thật tuyệt vời. (3)

(Xin mở ngoặc nói thêm: Bài thơ là của Phạm Hữu T với cái tựa Muốn Gởi Cho Em; thí dụ trên được trích trong bài bình thơ Mối Tình Xuyên Lục Địa của tôi (PĐN)

Đây là kiểu xạo nghệ thuật, “xạo dễ thương”, nâng cao giá trị của bài thơ.


2/ Xạo vì “xê dịch kịch bản”

Muốn thơ hay, tâm trạng phải thật, cảm xúc phải thật. Đó là điều cốt yếu. Trường hợp kịch bản cũng hoàn toàn thật nữa thì quá tốt. Nếu kỹ thuật thơ của thi sĩ nhuần nhuyễn, bài thơ sẽ dễ có nhiều cảm xúc, và nếu hội đủ một vài điều kiện khác nữa, hồn thơ có cơ hội xuất hiện. Nhưng không phải lúc nào kịch bản của bài thơ cũng “vừa khít” với tâm trạng. Đôi khi thi sĩ phải xê dịch, điều chỉnh chút ít để có sự ăn khớp cần thiết.

Thử đọc đoạn cuối của bài Giấc Mơ Anh Lái Đò của Nguyễn Bính:

Đồn rằng đám cưới cô to
Nhà giai thuê chín chiếc đò đón dâu
Nhà gái ăn chín nghìn cau
Tiền cheo, tiền cưới chừng đâu chín nghìn
Lang thang tôi dạm bán thuyền
Có người giả chín quan tiền, lại thôi.

Tôi không tin là trong thực tế, con số chín hoàn toàn phù hợp với số lượng những “thứ” mà ông nói đến trong bài thơ. Đúng là ông “phịa”; nhưng ông “phịa” khéo quá, “cao tay ấn” quá, nên người đọc, theo dòng cảm xúc của mình, đâu cần biết có đúng là chín chiếc đò đón dâu, có đúng là chín nghìn cau hay chín nghìn tiền cheo, tiền cưới hay không, mà chỉ thấy cái khoảng cách giàu nghèo giữa anh lái đò và tình địch hiện ra một cách rõ ràng và cay đắng, để rồi cái cảm giác bàng hoàng đau đớn về mối tình vô vọng của anh lái đò đã như một dòng thác đổ xuống, tràn ngập tâm hồn. (4)

Ở đây thủ pháp “gợi, không kể” được phối hợp với phép điệp ngữ (chín) một cách tài tình đã dẫn đến 2 câu kết tuyệt vời.

Tuy nhiên, nếu kịch bản xê dịch quá nhiều thì cả bài thơ sẽ bị đánh giá là xạo, không những mất hẳn giá trị nghệ thuật mà tác giả còn bị chê bai, coi thường.

Mời đọc Một Kịch Bản Thơ Xạo theo link dưới đây.  



Xạo Vì Có Sự Can Thiệp Của Vô Thức


Để có thể hội nhập và thích ứng với cuộc sống hàng ngày của cộng đồng, mỗi con người đương đại phải tuân thủ rất nhiều nguyên tắc giao tiếp, ứng xử trong xã hội. Xã hội càng văn minh số lượng nguyên tắc càng nhiều. Sau khi vào đời một thời gian (dài ngắn tùy hoàn cảnh riêng) trong mỗi thân xác con người có hai cái tôi cùng chung sống nhưng luôn đấu đá lẫn nhau để đòi quyền làm chủ thân xác đó: cái tôi đích thực và cái tôi hội nhập với cuộc đời – tôi tạm gọi là cái tôi văn hóa.

Tuổi đời càng cao cái tôi văn hóa càng mạnh, càng rõ nét và cái tôi đích thực càng yếu kém, mờ nhạt. Đến một lúc nào đó cái tôi văn hóa sẽ “đè bẹp” cái tôi đích thực để độc quyền chiếm hữu cái thân xác kia.

Lúc ấy, nói như Jean Paul Sartre (5) thì con người là một “kẻ vong thân” (đánh mất chính mình). Còn nói như Albert Camus (6) thì con người đích thực đã bất lực – để một “kẻ xa lạ” đến chiếm hữu thân xác mình. (6)

Những trải nghiệm, suy nghĩ, toan tính, dự định, ước mơ … của ta sau một thời gian xuất hiện trên bề mặt ý thức, đều tự động đi vào kho chứa - một cỗ máy vi tính khổng lồ nằm sâu kín trong tâm hồn ta từ “muôn kiếp trước” (Tây Phương hiểu “muôn kiếp trước” theo nghĩa "bóng" là từ lúc đứa bé có khả năng tiếp nhận thông tin từ xã hội để từng bước hình thành cái nhìn của mình về cuộc đời; hiểu “muôn kiếp trước” theo nghĩa đen là cách hiểu của đạo Phật). Cỗ máy tính khổng lồ đó chính là vô thức.

Nó không chỉ đơn thuần là một kho chứa mà còn làm công việc tổng hợp và chuyển hóa (process) những dữ kiện đó (trải nghiệm, suy nghĩ, toan tính, dự định, ước mơ …) thành một quan niệm, cách nhìn nhận, đánh giá con người, cuộc đời, kể cả những thành kiến, định kiến về truyền thống, đạo đức, niềm tin tôn giáo.

Mỗi khi đối diện với cảnh đời hiện tại, hồi tưởng về quá khứ hay thả hồn về hướng tương lai, và nếu cảm xúc của ta chưa trào dâng khiến ta ngây ngất đến mức lạc thần trí, thì vô thức sẽ thông qua lý trí, tác động vào tâm hồn ta, định hướng để tâm trạng của ta phù hợp với quan niệm, cách nhìn nhận của vô thức lúc ấy.

Có những bài thơ dù đọc kỹ cách mấy cũng không thể tìm ra dấu vết của sự dối trá. Tứ thơ dễ bắt, cảm xúc dạt dào. Có điều chỉ không có tín hiệu nổi điên đến mức lạc thần trí của thi sĩ, nghĩa là vẫn có bóng dáng của lý trí.

Khi bài thơ còn sự hiện diện của lý trí, vô thức sẽ có cơ hội can thiệp. Nó sẽ dùng lý trí làm cây cầu nối tác động vào tâm tình hoặc thái độ của thi sĩ. Lời thơ sẽ có chỗ này, chỗ kia bị “điều chỉnh” (mà thi sĩ hoàn toàn không biết) và sẽ không còn là tiếng nói chân thật của con tim.

Siêu Thực Trong Sứ Mệnh Giải Trừ Lý Trí

Theo Thụy Khuê thì Siêu Thực đi từ triết học phân tâm của Freud, coi vô thức như chủ thể của sáng tạo. Siêu Thực là hiện thân của mộng, đề cao vai trò của mộng.

Freud chia hoạt động tâm thần làm ba khu vực:

Vùng vô thức tức là cái đó (le ça trong tiếng Pháp, Es tiếng Đức) chứa đựng toàn bộ những nhu cầu bản năng bị dồn nén, cấm kỵ không được phát lộ ra ngoài.

Vùng ý thức tức cái tôi (le moi, ego), hay ý thức xã hội, cái tôi xã hội, chứa đụng những gì đã được thanh lọc bởi lý trí và đạo đức xã hội, sẵn sàng trình làng.

Và cái siêu ngã (le sur moi) có trách nhiệm kiểm duyệt.

Theo Freud, cái vô thức mới là bộ mặt thật, là cái tôi đích thực của con người. Nó chi phối mọi hoạt động. Còn cái tôi ý thức chỉ là bộ mặt bề ngoài, giả dối và ngụy tạo.

Mơ, đối với Freud, là thực hiện những khát vọng bản năng bị dồn nén. Khi ngủ, cơ quan kiểm duyệt không làm việc, do đó chỉ trong mơ người ta mới thể hiện được những ham muốn bị dồn ép cấm kỵ lúc tỉnh.

Đề cao vai trò của Mộng trong thơ sẽ loại bỏ gông cùm của lý trí, sự phân tích logic, nguyên tắc đạo đức, niềm tin tôn giáo. (7)

Đưa Mộng Vào Thơ Thơ Sẽ Thành Lời Chân Thật?

Về lý thuyết thì đúng.

Những hình ảnh, cảnh tượng, sự việc xảy ra trong giấc mơ thường vắng mặt lý trí. Tuy nhiên, khi tỉnh giấc thi sĩ có nhớ đúng và đủ những gì đã xảy ra trong giấc mơ hay không lại là chuyện khác. Hơn nữa, chúng như câu chuyện kcủa người điên - “đầu Ngô mình Sở” - không theo một thứ tự nào; nếu đưa vào thơ thì chức năng truyền thông của bài thơ thất bại.

Mà dù có nhớ đúng và đủ những gì xảy ra trong giấc mơ đi nữa thì khi đưa chúng vào thơ, thi sĩ – đang trong tình trạng tỉnh táo - thường không cưỡng lại được sự thèm muốn “thêm bớt, cắt xén”, nghĩa là “nêm nếm” một chút “tài thơ” riêng của mình để “điều chỉnh”, “hợp lý hóa” câu chuyện trong mơ.

Rốt cuộc cũng chẳng khác gì những người làm thơ “phi siêu thực”.

Giải Trừ Lý Trí Bằng Kỹ Thuật Thì Sao?

Mời độc giả đọc thử một đoạn trong bài Buồn Xưa của Nguyễn Xuân Sanh.

Lẵng xuân bờ giũ trái xuân sa
Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà
Nhài đàn rót nguyệt vú đôi thơm
Tỳ bà sương cũ đựng rừng xa

Tác giả đã đặt cạnh nhau những chữ hoặc nhóm chữ “xà bần”, chẳng có “dây mơ rễ má” gì với nhau nhằm mục đích cắt đứt sự liên tưởng, để lý trí “giơ hai tay đầu hàng” rồi bỏ đi.

Nhưng để có được kết quả đó ông đã phải trả một giá rất đắt - triệt tiêu chức năng truyền thông của bài thơ – làm mất sự giao cảm giữa thi sĩ và độc giả.

Cho nên nếu bảo rằng loại bỏ lý trí để được nghe, được đọc tâm tình chân thật phát xuất từ “cái tôi đích thực” của thi sĩ thì theo tôi, những nhà thơ siêu thực đã không làm được điều đó.


Hai Cách Giải Trừ Lý Trí “Phi Siêu Thực”


1/ Thơ Thiền

Thi sĩ tâm đã đối cảnh nhưng không “dấy động”, hoặc đã hoàn toàn buông bỏ chuyện tranh cạnh hơn thua của cuộc đời trần tục, lý trí không có chỗ bám víu. Trường hợp này ta có thơ thiền. Bài thơ là “chứng đạo ca” của một người đã ngộ, đã “thấy” được lý đạo. (Từ chỗ thấy Lý đến đưa Lý vào Sự để Lý Sự Dung Thông và rồi Sự Sự Vô Ngại còn một khoảng cách xa lắm)

Thí dụ 1

THƠ TRÊN CÁT

Viết bài thơ trên cát
Con sóng vỗ xóa đi
Vô tình đâu nhớ được
Mình viết bài thơ gì
(Viên Minh, nhận trực tiếp từ tác giả)

Bài thơ mới viết xong trên cát, con sóng tràn lên xóa mất mà thi sĩ vẫn không một chút bận tâm, đến mức chẳng còn nhớ mình đã làm thơ về cái gì. Sao lại thế được nhỉ? Người làm thơ bình thường như tôi (PĐN) sẽ cố nhớ lại vì nó là tài sản tinh thần của mình. Nếu quả thật đã quên thì chắc là sẽ ngẩn ngơ nuối tiếc.

Thái độ không bận tâm của tác giả đã khiến lý trí phải “đội nón ra đi”, vô thức không có chỗ bám víu để giở trò can thiệp, “điều chỉnh”. Thiền sư Viên Minh đã biểu lộ một khả năng buông bỏ rất đáng ngưỡng mộ. Ở đây không chỉ “thấy Lý” mà đã “Lý Sự dung thông”. Việc “thấy lý” của ông đã dẫn đến hành động (sự) – thái độ ung dung, bình thản khi nhận ra mình đã quên bài thơ.

Thí dụ 2

HÃY NHƯ MÂY TRẮNG

Mây trắng lang thang khắp đỉnh trời
Tùy duyên tan hợp dạo nơi nơi
Mây không hò hẹn không vương vấn
Thế giới ba ngàn mặc sức chơi
(Linh Như, nhận trực tiếp từ tác giả)

Tâm hồn của thi sĩ như mây trắng lang thang khắp trời, lúc tan, lúc hợp tùy duyên. Không hò hẹn, không vương vấn, không trói buộc. Lý trí không có chỗ tá túc, không có lý do để xuất hiện, đành phải “đi chỗ khác chơi”.

Trong 2 bài thơ thiền tâm hồn thi sĩ vắng lặng, không tư ý, tư dục; cái tôi nhỏ bé đã hòa nhập với vũ trụ vô biên nên sự vật, cảnh đời trước mắt họ, không qua lăng kính của vô thức, hiện ra như thị, như thực. Tâm hồn họ không chỉ gần sự thật mà chính là sự thật.

     2/ Thơ Thế Tục

Trái ngược với thơ thiền, trong thơ thế tục thi sĩ đắm say mùi đời đến độ điên cuồng, máu sôi lên vì yêu thương, căm hận... Làm thơ trong tâm cảnh này, nếu có thể thơ thích hợp, dòng chảy của tứ thơ thông thoáng, cảm xúc dâng lên như nước vỡ bờ, dễ tạo cao trào. Lúc ấy lí trí sợ hãi trốn biệt, thơ là tiếng lòng chân thật của thi sĩ. Bài thơ xứng đáng bước vào Bến Bờ Thi Ca.

Thí dụ: Say Đi Em của Vũ Hoàng Chương

Vũ Hoàng Chương trong cơn say – say rượu, say nhịp điệu nhạc trên sàn nhảy – đến lạc thần trí đã bộc lộ một “thành sầu” trong tâm hồn mình.

Đó là nỗi nhục của một sĩ phu bất lực trước cảnh quê hương, dân tộc đang bị ngoại bang dày xéo. Không những thế, chính mình lại sập bẫy của quân xâm lược, sa vào cảnh nghiện ngập - nghiện rượu, nghiện vũ trường, và đặc biệt là nghiện thuốc phiện – cái nghiện mà nếu vướng vào sẽ bị người đời coi rẻ, khinh khi. Nỗi nhục ấy, “thành sầu” ấy, đối với một người có thi tài và tâm hồn như Vũ Hoàng Chương là quá to lớn – “đất trời nghiêng ngửa” cũng không thể lung lay, sụp đổ.

 
Trong số những bài thơ xứng đáng được bước vào Bến Bờ Thi Ca thì theo tôi, Say Đi Em của Vũ Hoàng Chương nổi trội nhất. Cơn điên dài, cảm xúc mạnh, hồn thơ lai láng, và lời thơ rất thật.

Độc giả có thể đọc cả bài thơ và lời bình qua link sau đây:

Cùng một đề tài ngưng bài dưới đây được viết lại để độc giả dễ hiểu hơn.

Sự Khác Biệt

 Những thiền sư đạt đạo, sau khi cao hứng viết bài thơ thiền - sự vật, cảnh đời xuất hiện như thị như thực trong câu chữ - lại ung dung trở về trạng thái tâm buông bỏ, thanh tịnh.

Ngược lại, trong bài thơ thế tục (Say Đi Em của Vũ Hoàng Chương) tâm hồn thi sĩ còn chứa đầy những uất ức, thèm khát, bí mật phải che giấu nhưng nhờ cơn điên làm lý trí hoảng sợ trốn biệt nên “thành sầu” nguyên bản (thật, chưa qua điều chỉnh, thay đổi của vô thức) mới “bật ra”. 

Nhưng trạng thái nổi điên ấy chỉ đến bất chợt, có tính cách tạm thời. Ngay sau giây phút lạc thần trí đó ông sẽ lại “hoàn hồn” để trở về một Vũ Hoàng Chương “cũ”, có hàng trăm, hàng ngàn uẩn khúc khác chất chứa trong lòng không thể nói ra.

Theo tôi, đây là hai cách mời lý trí “đi chỗ khác chơi” hiệu quả mà vẫn có thể tâm tình với độc giả và giữ được nét đẹp trong sáng của thi ca.


Thơ Càng Hay Càng Gần Sự Thật

Những năm ở trung học nhà tôi nằm trong khu lao động. Đàn ông, sau thời gian làm lụng cực khổ suốt ngày, bữa cơm chiều thường tìm vui trong ly rượu. Mà khi “rượu vào” thì “lời ra”. Có ông lúc quá chén đã “buột miệng” nói ra chuyện dan díu với người đàn bà khác. Dĩ nhiên, vợ con nghe được, tình vợ chồng, cha con lạnh nhạt, hạnh phúc đội nón ra đi. Có trường hợp chỉ vì một câu nói “buột miệng” mà gia đình gẫy đổ, chồng một nơi, vợ một nẻo, con cái học hành lở dở, đánh mất tương lai.

Trong các phiên tòa hình sự ở Mỹ cả công tố viên lẫn luật sư biện hộ đều dùng nhiều thủ thuật tâm lý đẩy bị cáo hoặc nhân chứng (của cả 2 bên) vào thế tự ái, bực tức, tự “phun” ra những chi tiết lẽ ra phải che giấu để thắng kiện. Trong trạng thái nổi điên ấy những chi tiết bị “phun” ra thường được bồi thẩm đoàn tin và cho là sự thật. Họ sẽ dựa vào đó để phán xét có tội hoặc vô tội.


Với thơ, tôi có đôi lúc cao hứng nổi điên, câu chữ tuôn ra ào ạt, phải “chộp lại” bằng tốc ký. Lúc ấy lý trí trốn biệt, vô thức không có cầu nối nên không thể xen vào để bí mật “so đo hơn thiệt”, phán xét đúng sai, yêu cầu chỉnh sửa. Những đoạn thơ ấy, khi bình tâm đọc lại nghe rất “đã” vì nhiều cảm xúc, và dĩ nhiên, rất thật.

Nếu trong thời gian sáng tác, có nhiều đoạn thi sĩ cao hứng hoặc nổi điên thì bài thơ càng hay hơn nữa. Đặc biệt, nếu cơn điên kéo dài cho đến lúc viết xong bài thơ - hoặc ít nhất cũng xong đoạn tứ thơ lên đến cao trào - thì thi phẩm ấy không những cảm xúc sẽ dạt dào mà còn có nhiều cơ hội hồn thơ lai láng.

Nhưng xin đừng quên trạng thái cao hứng đến mức nổi điên của thi sĩ tuy là điều kiện rất cần nhưng chưa đủ để có hồn thơ. Bên cạnh đó thi sĩ phải có kỹ thuật thơ điêu luyện. Đặc biệt phải biết chọn (hoặc tự tạo ra) thể thơ có dòng chảy vừa nhất khí liền mạch vừa thông thoáng, dễ đưa tứ thơ và cảm xúc lên cao trào.

Nếu hồn thơ lai láng thì bài thơ sẽ đạt được mục đích cao cả nhất của người làm thơ là nói được tiếng Người (viết hoa) Chân Thật. Và sẽ đi vào Bến Bờ Thi Ca.

Kết Luận

Thi sĩ mượn thơ để bộc lộ, bày tỏ tâm trạng, để độc giả “nghe” được “tiếng lòng” của mình. Nhưng vì nhiều lý do, “tiếng lòng” của Ngài thường gian dối. Nếu bài thơ bằng cách nào đó loại bỏ được lý trí - dẫn đến loại bỏ được sự gian dối – có nghĩa là thi sĩ đã ban cho độc giả ân huệ được giao tiếp với Ngài bằng Tiếng Người Chân Thật.

Với một thế giới mà cái tôi văn hóa đã gần như hoàn toàn che lấp cái tôi đích thực như hiện nay thì đó là điều vô cùng cần thiết và quý giá. Và đó cũng là sứ mạng cao cả của thơ.

Nếu thi sĩ tâm có khả năng buông bỏ như các thiền sư đạt đạo thì không nói làm gì. Thơ của Ngài không có chỗ cho lý trí bám víu, sẽ là tâm tình chân thật.

Còn với những thi sĩ trần tục như tuyệt đại đa số những người làm thơ, trong đó có tôi, thì như đã trình bày ở trên, thơ càng nhiều cảm xúc (thứ cảm xúc từ trạng thái tâm của thi sĩ) càng gần sự thật và giá trị nghệ thuật càng cao.

Với những thể loại văn học khác thì tôi không dám bàn tới, nhưng với thơ, tôi có thể xác quyết câu nói “Văn chương càng hay càng xa sự thật” sai hoàn toàn.

Phạm Đức Nhì
phamnhibinhtho.blogspot.com


CHÚ THÍCH:

1/ Báo Tiền Phong ngày 01/10/2019

2/ Yêu Thơ Nên Phải Hết Lòng Với Thơ, Phạm Đức Nhì, t-van.net

3/ Mối Tình Xuyên Lục Địa, Phạm Đức Nhì

4/ Giấc Mơ Anh Lái Đò hay Mối Tình Vô Vọng

5/ Triết gia người Pháp
     Tác phẩm tiêu biểu: L'Être et le Néant (Tồn Tại Và Hư Vô), La Nausée (Buồn Nôn)

6/ Triết gia người Pháp
     Tác phẩm tiêu biểu: L'Étranger (Kẻ Xa Lạ)

7/ Từ Lãng Mạn Đến Siêu Thực, Thụy Khuê



Thứ Tư, 25 tháng 12, 2019

HAI BÀI THƠ MỘT NIỀM TIN




                                    


1/

CHẮC NGÀI KHÔNG NGHE THẤY

Hãy xin, sẽ được; hãy tìm, sẽ gặp; hãy gõ cửa, sẽ mở cho
                    (Mathew 7:7)

Khi siêu bão Haiyan
đang gầm gừ ở hướng đông
đài khí tượng tiên đoán
bão sắp tràn vào Tacloban (1)

Hơn 90 phần trăm dân ở đây
là con Chúa
sấp mình cầu nguyện
xin Chúa xót thương

Khi bão rít trên đầu
sóng biển dâng cao
tiếng kêu cầu càng lớn
càng khẩn thiết

Bão yên, nước rút
cảnh tượng thật kinh hoàng
thành phố tan hoang
xác người nằm xếp lớp

Cha xứ
mở cửa
ngôi giáo đường đổ nát
Chúa Giê-Su vẫn ngoẹo đầu
dang tay trên thánh giá
sợi dây điện
lủng lẳng dưới tai

Ai đó đã đeo cho ngài
một bộ máy trợ thính

Chú Thích:

1/ Thủ phủ của Leyte

“Many of you lost everything. I don’t know what to say to you. Many have asked, why, Lord?” He said: “All I can do is keep silent.”  (Pope Francis said when visited Tacloban on 01/17/2015, 14 months after the Super Typhoon Haiyan.)
“Nhiều người trong số các con đã mất tất cả. Ta không biết phải nói gì với các con. Nhiều người đã hỏi, tại sao, Chúa ơi?” Rồi ngài nói: “Tất cả ta có thể làm là im lặng” (Đức Giáo Hoàng Francis nói khi viếng thăm Tacloban hôm 01/17/2015, 14 tháng sau Siêu Bão Haiyan.)



2/

NGÀI NGHE, THẤY VÀ BIẾT HẾT

Dù người đời nói ngả, nói nghiêng”
tôi vẫn tin
có một Thiên Chúa toàn năng
ngài nghe, thấy, và biết hết
mọi chuyện ở thế gian
“một sợi tóc trên đầu rụng xuống
cũng không ngoài thánh ý của ngài”

Tôi cũng tin
ngài yêu mến loài người
và chính ngài đã tạo nên vũ trụ
những quy luật vận hành của nó
trong đó có quy luật của linh hồn

Tâm trong sáng
ăn ở hiền lành
sẽ sống giữa cảnh thiên đàng
ngay trên mặt đất
khi chết
hồn sẽ bay về chốn an lạc

Lòng dạ tối đen
hành xử nham hiểm, độc ác
sẽ sống giữa lửa thiêu địa ngục
dù giàu có
cửa rộng
nhà cao
và khi từ giã kiếp người
sẽ phải đọa xuống một nơi
rất xa Thiên Chúa.

Ôi Thiên Chúa lòng lành vô cùng
ngài là ngọn đuốc
đưa con người tránh xa địa ngục
hướng đến thiên đàng

Nhưng những chuyện sống chết, thành bại, sướng khổ
của thế gian
chuyển động của đất trời vạn vật
ngài tạo ra quy luật
và để chúng tự vận hành

Những ai rao giảng
rằng cứ tin
cứ thành khẩn cầu xin
là điều gì Chúa cũng sẽ cho toại nguyện
hoặc là họ không “hiểu chuyện”
hoặc là họ phỉnh lừa
ngài đâu phải phù thủy, thầy bùa
có người dâng lễ vật van xin
là “hô phong hoán vũ”

Riêng tôi
đã nguyện tin thờ Thiên Chúa
hàng đêm tâm sự với ngài
những suy nghĩ, lời nói, hành động trong ngày
tôi trải lòng ra
để đúng sai ngài chỉ bảo

Nhưng những chuyện
vợ đẻ con đau
gạo tiền cơm áo
sự nghiệp công danh
thế giới hòa bình hay chiến tranh
núi lửa, bão lụt
sóng thần hay động đất
dĩ nhiên
là ngài biết hết
nhưng như một Quân Vương
chính trực công minh
ngài lặng yên
để quy luật tự nó vận hành

Vì ngài là Thiên Chúa
nhân loại kính mến ngài vì lẽ đó.


Lời Trần Tình

Tình cờ gặp người bạn - một thời làm cùng nghề - có vợ người Philippines. Anh bạn cho biết đang mua sắm chút ít để vợ về Tacloban (Phillippines) thăm đứa cháu (con người anh ruột) còn sống sót sau siêu bão Haiyan. Cả cha mẹ và chị gái cháu đều bị chết thảm trong cơn bão này.

Chị vợ vừa khóc bù lu bù loa vừa nói, giọng trách móc: “Thật tội nghiệp! Anh chị là con chiên ngoan đạo lại hiền lành, tốt bụng, cả làng ai cũng quý mến, kính trọng mà lại gặp tai họa khủng khiếp như thế. Trước khi bão vào anh chị bên ấy và cả tôi bên này hết lòng cầu xin Chúa mà Ngài có chịu nghe đâu.”

Tôi xúc động rồi nổi hứng, ngay tối hôm ấy đã viết xong bài thơ.

Chắc Ngài Không Nghe Thấy được viết theo lối Kiếm Tông – chú trọng cái đẹp của ngôn ngữ, hình tượng, biện pháp tu từ.

Là người thường làm thơ theo lối Khí Tông nên khi chuyển qua Kiếm Tông ngôn ngữ thơ vẫn rất bình dị, đời thường. Hình thức bài thơ, theo thói quen, không bị trói buộc. Vần thoang thoảng. Hồn cốt bài thơ được dồn vào chút “tiểu xảo” ở đoạn kết, nói bóng gió về việc Chúa “không nghe” lời cầu xin của dân Phi.

Mãi đến khi Đức Giáo Hoàng Francis qua thăm Tacloban rồi tâm tình về sự bất lực của mình trước câu hỏi “Tại sao, Chúa ơi?” của giáo dân, tôi mới dám phổ biến bài thơ – nhưng cũng không quên kèm theo phát biểu của Đức Giáo Hoàng để hy vọng được “an toàn trên xa lộ”



 Bài thứ hai - Ngài Nghe, Thấy Và Biết Hết - được viết để giải thích.

Làm thơ, theo các bạn Mỹ của tôi, (tùy trạng thái tâm của thi sĩ) có 3 mục đích:

1/ Reason with them: Nói lý lẽ với độc giả

2/ Share your feelings with them: Chia sẻ tâm tình với độc giả

3/ Get it off your chest: Mở van cho tâm tình, cảm xúc trào tuôn ra khỏi ngực bạn (để khỏi óc ách)

“Mở van cho tâm tình, cảm xúc tuôn ra khỏi ngực” là thượng sách. Với tâm trạng này, nếu thể thơ thích hợp, bài thơ có cơ hội là tiếng lòng chân thật (hồn thơ lai láng).

“Chia sẻ tâm tình với độc giả” sẽ tạo được bài thơ dạt dào cảm xúc nhưng chưa thể nhiều đến mức có hồn thơ.

“Nói lý lẽ với độc giả” là hạ sách. Làm thơ với tâm trạng này thì lý trí sẽ nắm quyền lèo lái nên dù kỹ thuật có siêu cách mấy bài thơ cũng khô cứng, ít cảm xúc, đọc rất chán.

Bài Ngài Nghe, Thấy Và Biết Hết tuy viết theo lối Khí Tông nhưng mục đích lại để “nói lý lẽ” về đề tài tôn giáo - vừa khó nhai, vừa dễ đụng chạm – nên tuy tứ thơ chảy thành dòng nhưng toàn lý lẽ, rất ít cảm xúc, đọc như nhai giẻ rách, rất mệt và rất buồn ngủ.

Với tôi, đây là một trong số những bài thơ thất bại của mình.



PHẠM ĐỨC NHÌ


Thứ Hai, 16 tháng 9, 2019

LẠI THÊM HAI ĐÓA HOA HỒNG



Nhắc Lại Chuyện Văn Chương Trên Facebook

Trò chơi văn chương trên FB khác với các trang web văn học trên Internet. Nơi đây tác giả và độc giả thuộc đủ mọi thành phần, thượng vàng hạ cám. Việc góp ý, bình luận trên FB rất dễ dàng. Miễn bạn giữ thái độ lịch sự, hòa nhã thì dù bình luận của bạn có “chưa tới”, dở ẹc hoặc “trật bàn đạp” cũng đều được đón nhận một cách vui vẻ.

Những bài viết về thơ của tôi nhận được khá nhiều bình luận như vậy. Nhưng bên cạnh đó cũng có những bình luận nội lực văn chương sung mãn, thổi vào bài viết một luồng gió mới tươi mát, đưa ra một phương cách mới để nhìn nhận vấn đề một cách sâu sắc.
                   
Bài Thơ Xuất Hiện Như Ánh Chớp

Cách đây không lâu, dưới bài viết Hồn Thơ Và Cảm Xúc của tôi trên Facebook có một bình luận bằng thơ (4 câu) và một đoạn văn của Vân Anh:

Không là dòng chảy trong mương
Không là sóng cả đại dương thăng trầm
Người – êm ái mạch nước ngầm
Chảy trong tôi suốt tháng năm vụng về.

Cám ơn anh Nhì Phạm.
Bài viết của anh thật thú vị. Em cũng từng nguệch ngoạc đôi dòng nhưng vẫn chưa thấy dáng dấp thơ trong đó. Đọc bài viết của anh và ngộ ra khá nhiều lỗ hổng trong những dòng nguệch ngoạc của mình.

Ý của đoạn thơ là “Chính những nhà bình thơ - đúng ra là tác phẩm của họ - đã giúp thi sĩ chỉnh sửa những vụng về, bất cập trong sáng tác thơ cũng như cách nhìn nhận, đánh giá thơ ca của mình”.

Vân Anh đã kín đáo bày tỏ lòng biết ơn đối với những bài bình thơ mà chị đã nhân cách hóa thành chữ Người một cách trân trọng và quý mến.

Thấy bài thơ hay quá (đoạn thơ sau đó có tên là Mạch Nước Ngầm) tôi đã viết lời bình với tựa Đóa Hoa Hồng Cho Người Bình Thơ.

Bài Đóa Hoa Hồng Cho Người Bình Thơ được đăng trên Facebook vào lúc 7 giờ 28 sáng ngày 29 tháng 6 / 2019 (giờ Houston, Mỹ) thì đến 23 giờ 05 (giờ Việt Nam) cùng ngày, đã thấy dưới bài viết ấy, ở dạng bình luận, bài thơ Nhân Tình Của Những Áng Văn Xanh của Vân Anh.

Bỏ qua 12 tiếng cách biệt giữa Houston và Việt Nam thì từ lúc đọc bài viết của tôi rồi bắt đầu sáng tác cho đến lúc chị đăng bài thơ chỉ khoảng hơn 3 tiếng đồng hồ. Tôi nghĩ chị phải ở trạng thái thật cao hứng và xúc động mạnh mẽ nên mới có thể hoàn tất bài thơ nhanh như thế.

Dưới đây là link dẫn đến khung cảnh ra đời của bài thơ trên Facebook.



NHÂN TÌNH CỦA NHỮNG ÁNG VĂN XANH

1/
Bầu bạn với văn chương
em nhẹ lướt đi
bồng bềnh giữa ngút ngàn câu chữ
nháy mắt cười
với ca dao, ngạn ngữ
nhưng rồi …
chỉ nồng nàn với riêng anh

2/
Anh trải rộng
những cánh đồng mướt xanh
em ngửa mặt hít hà hương lúa mới
anh tuôn chảy dòng sông diệu vợi
thuyền em trôi thênh thang

3/
Tình mình lặng thầm mà chứa chan
em có thể cười vang
khi gặp gỡ
có thể vỗ về
ru êm vào giấc ngủ
tha thiết không còn đủ với đời
em son sắt văn chương

4/
Câu chữ vấn vương
âm vần lưu luyến
và từ giờ em nguyện
làm nhân tình của những áng văn xanh.

(VÂN ANH)

Hình Thức Thơ

Nhân Tình Của Những Áng văn Xanh có hình thức của Thơ Mới biến thể, vần liên tiếp cứ đến hẹn lại lên (16 câu, 7 cặp vần - trừ câu đầu và câu cuối). Biến thể ở chỗ số chữ trong câu thay đổi tùy hứng khiến nhịp điệu không tẻ nhạt vì lập đi, lập lại. Và nhờ nhịp điệu thay đổi như thế nên không có hội chứng nhàm chán vần.

Đây là bài thơ nhất khí, liền mạch – nghĩa là tứ thơ và cảm xúc chảy thành dòng từ câu đầu đến câu cuối, ngoại trừ những chỗ tác giả tự ngừng nghỉ để chuyển ý chứ không vì tuân theo quy luật của thể thơ. Với thế trận này, thơ được coi là viết theo phe Khí Tông – thiên về cảm xúc - để phân biệt với thơ viết theo phe Kiếm Tông – thiên về cái đẹp của câu chữ, chú trọng ngôn ngữ, hình tượng và các biện pháp tu từ.

Nếu tác giả phấn khích, cao hứng thì trong bài thơ Khí Tông cảm xúc nương theo dòng chảy của tứ thơ sẽ tích tụ và lớn mạnh nhanh chóng. Cảm xúc càng mạnh, lý trí càng yếu. Lý trí bị lấn át đến một mức nào đó cảm xúc tầng 3 sẽ xuất hiện. Khi lý trí bỏ chạy biệt tăm, cảm xúc độc chiếm khung cảnh của bài thơ, dòng chảy của tứ thơ hóa thân thành dòng cảm xúc, ta có hồn thơ.

Biện Pháp Tu Từ

Bài thơ sử dụng khá nhiều biện pháp tu từ.

1/ Ẩn dụ

     a/ “Áng văn xanh” = bài bình thơ = cánh đồng mướt xanh
     b/ Hương lúa mới: Cái mới trong thơ.
     c/ “Tuôn chảy dòng sông diệu vợi”: Hóa thân thành dòng sông để  dẫn đường chỉ hướng đi cho thơ.
     d/ “Thuyền em”: Thơ của tác giả.

2/ Nhân cách hóa: “Áng văn xanh” được chuyển hóa thành “Anh”, một người được tác giả cảm mến, yêu thích và sau cùng chị đã nguyện mãi mãi làm nhân tình. 

Đây chỉ là những biện pháp tu từ “rõ nét”. Ngoài ra, còn những câu “bóng gió” ở đoạn 1 và đoạn 3, xin phép được lướt qua để bài viết không bị “loãng”

Tìm Hiểu, Nhận Biết Tứ Thơ

Bài thơ được chia làm 4 đoạn, mỗi đoạn 4 câu.

1/

Là thi sĩ, lạc vào chốn văn chương, “bồng bềnh giữa ngút ngàn câu chữ”, làm quen với nhiều thể loại văn học, nhưng tác giả cảm thấy gần gũi, thân thiện và yêu thích nhất là những bài bình thơ. Câu:

nhưng rồi … chỉ nồng nàn với riêng anh”.

đã diễn đạt rất rõ ràng, dễ hiểu.

Hai chữ “nồng nàn” thật đắt và dễ thương, biểu lộ một sự quý mến trên mức quen biết xã giao rất nhiều. Tác giả tránh chữ “yêu” nhưng trong lòng và cách cư xử thì có vẻ như “tình đã trao”. Chữ “rồi” – có giá trị như một dấu lặng - cho biết đây không phải là sự quý mến vồ vập mà là đã qua tìm hiểu, trải nghiệm. Thời gian dài hay ngắn, tác giả không cho biết. Nhưng như thế cũng đủ để độc giả thấy được sự chín chắn của chị.

Chữ “anh” ở cuối đoạn không phải là người đàn ông bằng xương bằng thịt mà là một thể loại văn học nào đó đã được nhân cách hóa để chị kín đáo “tỏ tình”. Nếu đọc Tựa Đề rồi để ý đến bối cảnh bài thơ (là bình luận dưới một bài bình thơ trên FB), độc giả sẽ dễ dàng nhận thấy chị muốn nói đến những bài bình thơ mà chị thân mến gọi chúng là Những Áng Văn Xanh.

2/

Hai câu đầu:

Bài bình thơ như một cánh đồng mướt xanh để “em ngửa mặt hít hà hương lúa mới”. Tác giả sử dụng phép ẩn dụ. Thi sĩ nhờ những bài bình thơ để tiếp cận và thấy được cái mới trong thơ.

Hai câu sau:

Bài bình thơ hóa thân thành dòng sông tuôn chảy thẳng hướng bến bờ thi ca để thuyền em – nói rõ ra là thơ của em - theo đó mà trôi cho khỏi quên đường, lạc lối.

Chị đứng ở vị trí của một thi sĩ, nhờ kinh nghiệm làm thơ cũng như đọc và thẩm thấu hương hoa của những bài bình thơ (hoặc viết về thơ) đã “ngộ” thêm ra 2 nhiệm vụ của chúng. Đó là 1/ tìm kiếm, xiển dương cái mới trong thơ và 2/ chỉ đường để thi sĩ hướng thơ của mình đến bến bờ thi ca. (Trước đó chị đã có Mạch Nước Ngầm).

3/

Tác giả cho rằng tình của chị với những bài bình thơ thầm lặng mà chứa chan. Gặp được một bài hợp ý thì cười vang thích thú. Những cái hay, cái đẹp của bài bình thơ như ru chị vào giấc ngủ êm đềm. Do hoàn cảnh không còn tha thiết yêu đời nên chị đã hết lòng “son sắt văn chương”.

4/

Chính vì làm thơ, yêu thơ nên chị vấn vương câu chữ, lưu luyến âm vần, và nguyện từ giờ về sau “làm nhân tình” của “ những áng văn xanh”

Tóm tắt tứ thơ:

Là thi sĩ nên trong số rất nhiều thể loại văn học tác giả nặng tình nhất với những bài bình thơ (hoặc viết về lý thuyết thơ), nhờ đó chị có thể thấy được cái mới trong thơ, thấy được hướng đi để đưa thơ mình đến bến bờ thi ca. Tình yêu ngày càng sâu đậm và cuối cùng chị đã nguyện mãi mãi làm nhân tình của những “Áng Văn Xanh” đó.

Có thể nói bài thơ hơi bị “khó tiêu”. Nhưng khi độc giả đã “giải mã” hết những biện pháp tu từ và đọc lại vài lần thì theo tôi, bài thơ vừa lung linh sương khói, vừa lãng mạn và vừa sâu sắc. Chỉ riêng về mặt câu chữ và thế trận cũng đủ để một người yêu thơ như tôi, tán thưởng và khâm phục.


Tứ Thơ Độc Đáo

Nét độc đáo của bài thơ, theo tôi, là tứ thơ.  Cốt tủy của 2 bình luận bằng thơ trong khung cảnh 2 bài viết 1/ Hồn Thơ Và Cảm Xúc và 2/ Đóa Hoa Hồng Cho Người Bình Thơ (PĐN) là 6 câu thơ:

Người – êm ái mạch nước ngầm
Chảy trong tôi suốt tháng năm vụng về.
(Mạch Nước Ngầm)

Anh trải rộng những cánh đồng mướt xanh
em ngửa mặt hít hà hương lúa mới
anh tuôn chảy dòng sông diệu vợi
thuyền em trôi thênh thang.
(Nhân Tình Của Những Áng Văn Xanh)

Sáu câu thơ này có những đặc điểm:

1/ Về ý nghĩa, đề cập đến 3 nhiệm vụ của công việc bình thơ.

2/ Ngôn ngữ, hình tượng đẹp, cao sang, ẩn dụ kín kẽ, ý tứ chính xác, sâu sắc.

3/ Viết về bình thơ bằng thơ. Trao tặng độc giả những kiến thức cốt yếu về công việc bình thơ bằng phương cách “trái tim đến với trái tim” để độc giả dễ tiếp nhận hơn.

4/ Không phải bài viết của người hiểu biết về lý thuyết thơ và làm công việc bình thơ mà là “tâm tình” của người sáng tác thơ, trực tiếp đón nhận lợi ích của những bài bình thơ. Vì thế, tránh được tính chủ quan, ngự trong “tháp ngà” thường có của những nhà bình thơ.

Cảm Xúc (Tầng 1 + Tầng 2)

Cảm xúc tầng 1, đến từ câu chữ, là cảm giác thích thú, khoái trá của độc giả khi gặp được một chữ hoặc một nhóm chữ “đắt”, một hình tượng đẹp, mới lạ, lung linh, sống động, câu cú gọn gàng, trong sáng, dễ hiểu. Đặc biệt, không có những chữ, câu thừa, “vô tích sự”.

Cảm xúc tầng 2 là cảm giác thích thú, khoái trá ở cường độ mạnh hơn khi thấy thế trận của bài thơ hợp lý, dòng chảy thông thoáng, chuyển tải nội dung của tứ thơ hiệu quả, không có câu thơ, đoạn thơ “nội gián” ngược dòng chảy với tứ thơ. Độc giả cũng yêu thích cách dàn trận mới lạ miễn là mới lạ phải đồng hành với hợp lý và hiệu quả.

Cảm xúc tầng 1 và tầng 2 đến từ câu chữ, thế trận nên được gọi là cảm xúc nội tại của bài thơ. Nó khác với cảm xúc tầng 3 đến từ trạng thái cao hứng, nổi điên của thi sĩ – nghĩa là ở ngoài câu chữ.

Khả năng sử dụng câu chữ, thế trận được gọi là kỹ thuật thơ. Nhiều người “lịch sự” còn gọi là “tài thơ” của tác giả, dù cách gọi này dễ gây hiểu lầm.

Kỹ thuật thơ của tác giả trong Nhân Tình Của Những Áng Văn Xanh rất nhuyễn nên bài thơ không có lỗi kỹ thuật. Ngôn ngữ thơ đẹp một cách sang trọng. Các biện pháp tu từ như ẩn dụ, nhân cách hóa, so sánh nối đuôi sau xuất hiện nên tứ thơ lung linh, sống động và hấp dẫn. Câu cú vững vàng, chắc nịch, không sơ hở nên nếu độc giả “giải mã” được, hiểu được ẩn ý của các biện pháp tu từ thì sẽ đến đúng bến đỗ của tứ thơ không khó lắm.

Lúc ấy, cảm giác thích thú, khoái trá của độc giả ở tầng 1 và tầng 2 rất mạnh.

Cảm Xúc Tầng 3

Đoạn 1

Bầu bạn với văn chương
em nhẹ lướt đi
bồng bềnh giữa ngút ngàn câu chữ
nháy mắt cười
với ca dao, ngạn ngữ
nhưng rồi …
chỉ nồng nàn với riêng anh

Tuy là những câu dẫn độc giả vào khung cảnh của bài thơ nhưng tác giả viết với thái độ hăm hở, hào hứng để biểu lộ tâm trạng đang nóng bỏng trong lòng mình nên đọc hết câu thứ tư: 

“nhưng rồi …
chỉ nồng nàn với riêng anh”

độc giả đã cảm thấy hơi ấm của cảm xúc tầng 3 len giữa nhưng hàng kẻ thấm vào tâm hồn. Chỉ âm ấm nhưng rất rõ nét.

Đoạn 2

Anh trải rộng
những cánh đồng mướt xanh
em ngửa mặt hít hà hương lúa mới
anh tuôn chảy dòng sông diệu vợi
thuyền em trôi thênh thang

Đây là đoạn chứa cả hồn cốt của bài thơ nên cảm xúc rất mạnh cả ở trong lẫn bên ngoài dòng chảy của tứ thơ. Cả 4 câu của đoạn này đều thuộc loại câu “bộc lộ” (Show) nên cảm xúc tầng 3, gặp lúc tác giả đang cao hứng, lại có trớn từ đoạn 1, dâng cao rất nhanh. Ngôn ngữ thơ cao sang, hình tượng đẹp, nên thơ, ẩn dụ tương hợp, kín kẽ nên tâm hồn của độc giả như đang bồng bềnh trên “sóng lúa” và sóng nước.

Đoạn 3

Tình mình lặng thầm mà chứa chan
em có thể cười vang
khi gặp gỡ
có thể vỗ về
ru êm vào giấcngủ
tha thiết không còn đủ với đời
em son sắt văn chương

Câu đầu của đoạn 3 “Tình mình lặng thầm mà chứa chan” là câu kể (Tell). Ba câu sau chỉ để giải thích, làm rõ nghĩa hai chữ “chứa chan”. Để làm việc đó, lý trí phải được gọi về. Với tác giả, để giải thích cho đúng, hợp lý. Với độc giả, để hiểu và chấp nhận sự giải thích đó.

Riêng câu “tha thiết không còn đủ với đời, em son sắt văn chương” lại là một câu kể khác. Độc giả như tôi đã phải bắt lý trí làm việc cật lực – bỏ cả buổi vào trang FB của chị - để tìm hiểu tại sao chị lại không còn tha thiết yêu đời mà dành hết tâm hồn “son sắt văn chương”. Tôi đã thấy, đã hiểu. Nhưng đây là vùng đất riêng tư của chị nên không tiện nói thêm.

Đối với tứ thơ thì sự giải thích của đoạn 3 làm mối tình của chị đối với “những áng văn xanh”, trước mắt độc giả, thêm phần đậm đà, tha thiết, hỗ trợ mạnh mẽ cho đoạn kết của bài thơ. Nhưng đáng tiếc, chính vì đoạn thơ này mà cảm xúc tầng 3 đang nóng bỗng nguội hẳn đi.  

Đoạn 4

Câu chữ vấn vương
âm vần lưu luyến
và từ giờ em nguyện
làm nhân tình của những áng văn xanh.

Những câu bộc lộ tâm trạng (Show) tái xuất hiện. Cảm xúc tầng 3 đã ấm lại.
Đến câu cuối, tứ thơ đã đến đích ở đỉnh điểm (về ý tứ), cảm xúc của tầng 3 đang nóng lên thì bài thơ đã kết thúc.

Tóm lại, tác giả làm thơ trong lúc tâm hồn phấn chấn, cao hứng, cảm xúc tầng 3 biểu hiện rõ nét ở 2 đoạn đầu. Tuy nhiên, chưa đủ để hồn thơ xuất hiện.

Sau đây là mấy lý do:

1/ Đoạn 3 mời gọi lý trí về để nghe phân trần, lý giải. Có lý trí, cảm xúc - đặc biệt là cảm xúc tầng 3 - tự động xẹp xuống.

2/ Với bài thơ 16 câu, 117 chữ, viết theo lối Khí Tông mà sử dụng biện pháp tu từ như liệt kê ở trên là hơi dầy. Với việc biểu hiện tứ thơ thì rất hiệu quả, rất đẹp, rất hay, nhưng chính vì thế đã làm vướng víu dòng chảy cảm xúc, ảnh hưởng đến sự lớn mạnh của cảm xúc tầng 3.

3/ Đỉnh điểm (điểm nhấn) của tứ thơ ở cuối bài. Đỉnh điểm của cảm xúc tầng 3 ở cuối đoạn 2. Bài thơ không kết thúc ở cao trào.

Góp Ý Của Một Anh Bạn

Bài viết gần xong thì một anh bạn yêu văn chương ở xa đến chơi. Tôi đưa bản thảo cho anh đọc và anh đã góp ý 2 điểm:

1/ Nhóm chữ “và từ giờ”.  

Trước hết, xin nhắc lại nhân vật “Anh” chỉ là “những áng văn xanh” hay “những bài bình thơ”, do “nhân cách hóa” mà có mặt, chứ không phải một nam tử hán bằng xương bằng thịt.

Ngay ở cuối đoạn 1 và rồi sang cả đoạn 2 tình của Nàng với “Anh” đã rất sâu đậm:

“nhưng rồi …
chỉ nồng nàn với riêng anh”

Anh trải rộng
những cánh đồng mướt xanh
em ngửa mặt hít hà hương lúa mới
anh tuôn chảy dòng sông diệu vợi
thuyền em trôi thênh thang

Tôi nghĩ với ngôn ngữ thơ như thế Nàng đã yêu và cho “Anh” tất cả, đâu còn giữ lại tý gì. Nhưng đến cuối bài - đỉnh điểm và cũng là điểm nhấn của tứ thơ – khối tình đó chỉ tăng đến mức:

và từ giờ em nguyện
làm nhân tình của những áng văn xanh”

nghĩa là chỉ cho “Anh” thêm chút danh hão chứ có gì khác đâu?  Như vậy độ gia tăng tình cảm của Nàng với “Anh” từ lúc đầu cho đến cuối bài không đáng kể. Nếu vẽ đường biểu diễn thì đó chỉ là một đường thẳng gần như nằm ngang, chỉ hơi chếch lên một tý ở đoạn cuối. Tôi cho đó là điểm yếu quan trọng của bài thơ.

Anh bạn tôi đứng về phía tác giả, giải thích và biện hộ như sau:   

Ở phần đầu bài thơ, dù thái độ của Nàng đã “nồng nàn với riêng Anh”, rồi trong cả đoạn 2 đã say sưa, mê mẩn cùng Anh trong “những cánh đồng mướt xanh” và “dòng sông diệu vợi”, nhưng khi đã “nguyện” làm nhân tình của Anh thì lời nguyện đó đã đưa tình bước lên một tầng bậc mới, cao hơn trước nhiều. Hơn nữa, nhóm chữ “và từ giờ” đã hứa hẹn một tương lai lâu dài, mãi mãi, suốt đời.

Khi nữ ca sĩ nào đó hát câu “Em hứa yêu anh trọn một đời” (1) khán thính giả sẽ mường tượng một mối tình đằm thắm, lâu dài, mãi mãi. Hai câu thơ

“và từ giờ em nguyện
làm nhân tình của những áng văn xanh

còn nặng tình hơn câu hát đó nữa. Lý do: Chữ “nguyện” còn mạnh hơn chữ “hứa” một bậc.

Như vậy, có thể nói độ gia tăng của khối tình của Nàng với “Anh” từ đầu bài thơ đến hai câu kết là rất đáng kể. Anh đề nghị:

“Nếu không khen thì cũng đừng nên đưa vào những lời ‘khó nghe’ kẻo lại bị ‘búa rìu dư luận’. Mà chỗ này người ta ‘búa’ thì khó đỡ”.

Quả thật, tôi thấy sức mạnh của chữ “nguyện” nhưng lại “quên” nhóm chữ “và từ giờ” nên đã trách oan tác giả.

“Nói phải thì củ cải cũng phải nghe”. Tôi đã nghe và đã sửa. Cám ơn anh bạn.

2/ Về đoạn 3 của bài thơ

Anh bạn tôi cho rằng tác giả viết bài thơ là để bày tỏ mối tình thắm thiết của Nàng đối với “những áng văn xanh”. Và theo anh, “đoạn 3 đã hỗ trợ đắc lực cho công việc đó; có công lớn như vậy mà còn bị ‘bắt lỗi’ là không đúng”.

Tôi biết chỗ dựa để anh và tôi nhận xét, đánh giá một bài thơ, một đoạn thơ, một câu thơ hay hoặc không hay, khác nhau. Anh dựa vào sự hiệu quả trong việc giúp biểu hiện tứ thơ. Tôi, ngoài điểm đó, còn nhìn theo hướng đi của bài thơ đến bến bờ thi ca.

Đối với những bài thơ tác giả chọn chữ so vần trong lúc “tỉnh như sáo” thì không nói làm gì. Với những bài ấy thì mọi đôi mắt phải nhìn chăm chú vào tứ thơ là đúng. Nhưng với những bài thơ có xuất hiện cảm xúc tầng 3 thì phải theo dõi dòng chảy cảm xúc, xem nó có thông thoáng để cảm xúc tầng 3 lớn mạnh hay không? Có cơ hội để có hồn thơ hay không?

Tôi biết, về mặt ý tứ, đoạn 3 của NTCNAVX là một đoạn thơ hay. Nhưng về mặt khơi dòng để cảm xúc tầng 3 tuôn chảy thì nó lại là điểm tụ hội của lý trí, là vật cản. Chính nó làm mất cơ hội để hình thành hồn thơ.

Ưu Điểm Của Bài Thơ

     a/ Vẫn dựa vào khung Thơ Mới nhưng số chữ trong câu thay đổi tùy hứng với biên độ rộng – câu ngắn nhất 5 chữ, câu dài nhất 12 chữ, nhịp điệu thay đổi, không lập đi lập lại, tính nhạc cao.
     b/ Vần liên tiếp đều đặn, 16 câu, 7 cặp vần, nhưng do tính nhạc cao nên vẫn vừa độ ngọt, không có hội chứng nhàm chán vần.
     c/ Ngôn ngữ cao sang, chắt lọc, hình tượng đẹp, gợi cảm.
     d/ Bài thơ nhất khí liền mạch, tứ thơ và cảm xúc chảy thành dòng.
     e/ Tứ thơ tuyệt vời.
     f/ Cảm xúc tầng 1 và tầng 2 mạnh.
     g/ Có cảm xúc tầng 3 khá “nóng” ở cuối đoạn 2, nhưng nguội dần từ đầu đoạn 3.

Khuyết Điểm

Có cảm xúc tầng 3 nhưng chưa đủ mạnh để tạo hồn thơ. (Đã giải thích ở mục Cảm Xúc Tầng 3)

Kết Luận

Ba nhiệm vụ của nhà bình thơ trong Mạch Nước Ngầm và Nhân Tình Của Những Áng Văn Xanh của Vân Anh đâu đó đã có người nhắc đến, bàn đến. Chị không phải là người đầu tiên nghĩ ra những ý tưởng đầy tính học thuật ấy. Nhưng với tâm thế của người thọ nhận, gói chúng vào 2 bài thơ, nén chúng vào 6 câu thơ vừa cô đọng, đẹp, sâu sắc, lại vừa lãng mạn, thấm đẫm chất tình như chị, thì theo tôi, xưa nay chỉ có một.

Chị đã tặng cho người yêu thơ một món quà ý nghĩa. Riêng đối với những người bình thơ như chúng tôi, trước sau, chị đã trao tận tay 3 đóa hoa hồng. Một, từ Mạch Nước Ngầm và hai, từ Nhân Tình Của Những Áng Văn Xanh.

Mai mốt đây, bàn đến đề tài bình thơ, những nhà phê bình, đặc biệt là giới trẻ, để trích dẫn, khỏi phải tìm tòi lượm lặt mỗi nơi một đoạn văn xuôi khô cứng. Trước mắt họ, những đóa hoa của Vân Anh sẽ hiện ra mời gọi. Mềm mại, dễ thương – và vẫn như ngày đầu – nguyên vẹn một màu hồng tươi thắm.

  

Phạm Đức Nhì
phamnhibinhtho.blogspot.com

CHÚ THÍCH

1/ Một Đời Yêu Anh (Em), Trần Thiện Thanh.