Thứ Bảy, 4 tháng 3, 2017


TIÊU CHÍ 3 TÍNH NHẤT QUÁN CỦA TỨ THƠ


Hai Bản Nhạc Khai Vị

1/ Mỗi năm cứ đến giữa tháng 12 là các đài truyền thanh, truyền hình Việt ngữ, các nhà thờ, các Mall, các trung tâm sinh hoạt của người Việt lại rầm rộ phát nhạc Giáng Sinh. Tôi chú ý đến bản nhạc Đi Tìm Chúa Tôi vì có 2 câu đầu, theo tôi, tác giả viết hơi vội, hơi ẩu hoặc vô ý.

Này một hài nhi vừa sinh ra đời
Hãy đến mau kính dâng lạy người

Tại sao thấy hài nhi sinh ra đời lại phải đến dâng lạy? Như thế thì (chỉ riêng ở Houston) một ngày phải lạy biết bao nhiêu hài nhi? Nếu hai câu ấy nằm ở giữa bài thì không nói làm gì. Thính giả ít nhất cũng đã được dẫn dắt vào khung cảnh ngày lễ và hiểu được là hài nhi được nói đến chính là Chúa Hài Đồng. Đàng này chưa biết ất giáp gì đã bị hối thúc đi lạy hài nhi. Những người không phải là tín đồ Thiên Chúa Giáo sẽ thấy ngỡ ngàng, gai gai khó chịu. Mà ngay đối với con dân Chúa cũng thấy chướng; một bài hát về đạo mà vô ý đến độ gây phản cảm.

2/ Mới đây, khi tra cứu để viết Những Tiêu Chí Để Thẩm Định Giá Trị Một Bài Thơ tôi tình cờ nghe bản nhạc Bài Thánh Ca Buồn của Nguyễn Vũ, có đoạn:

Lời nguyện mình Chúa có nghe không
Sao bây giờ mình hoài xa vắng?
Bao nhiêu đêm Chúa xuống dương gian
Bấy nhiêu lần anh nhớ người yêu

Trong đó 2 câu sau – dựa trên bề mặt của con chữ – có nghĩa là “Mỗi năm Chúa xuống dương gian một đêm và bao nhiêu đêm Chúa Xuống dương gian là bấy nhiêu lần anh nhớ người yêu.” Như vậy thì bậy quá!. Chúa chỉ Giáng Sinh một lần; những năm sau đó là con người tổ chức kỷ niệm ngày Chúa Giáng Sinh chứ đâu phải năm nào Chúa cũng xuống dương gian đâu! Mà giả dụ năm nào Chúa cũng Giáng Sinh thì cũng chẳng thể “bấy nhiêu lần anh nhớ người yêu” được. Chúa Giáng Sinh (lần đầu!) từ mấy ngàn năm trước, anh với người yêu giỏi lắm chỉ được mấy chục cái xuân xanh, thì làm sao “bấy nhiêu lần anh nhớ người yêu?” Rõ ràng nội dung của đoạn ca từ “câu nọ cãi cọ với câu kia”, chẳng hợp lý tý nào.

Bài Thơ “Hai Chàng Trai”

Trên đường có nhị chàng trai

Đầu râu tóc bạc cỡi hai ngựa hồng

Ngựa thời trắng toát như bông

Giữa đường cát trắng bụi hồng tung bay

Những mâu thuẫn về ý trong đoạn thơ:

a/ Chàng trai mà “đầu râu tóc bạc”

b/ Ngựa hồng mà “trắng toát như bông”

c/ Đường cát trắng mà “bụi hồng tung bay”

Trên đây là bài thơ vui nói lên một lỗi sơ đẳng của thơ là ngôn từ, ý tứ không nhất quán, có mâu thuẫn nội tại, “câu sau chửi cha câu trước”.

Buổi Sáng - Nắng Và Em

Sáng nay gọi nắng ra sân

Nắng theo em đến khắp trần gian vui

Nhìn em ngơ ngác nắng cười

Hôn lên đôi má hồng tươi mầu vàng

Em nhìn nắng chiếu miên man

Bỗng dưng lòng thấy chứa chan yêu đời.

Đây là bài thơ, có lẽ của một em học sinh, tôi đọc được từ nhiều năm trước, thấy dễ thương nên chép lại để bàn thơ cho vui. Sau đây là những điểm “thiếu nhất quán”:

a/ Em chỉ đi quanh quẩn trong sân thì làm sao nắng có thể “theo em đến khắp trần gian” được. Hơn nữa đối với trần gian (quả đất) thì nắng chỉ đến được một nửa thôi; nửa kia là ban đêm.

b/ Em chủ động “gọi nắng ra sân” mà sao lại “ngơ ngác”

c/ “Nắng chiếu miên man” không hợp với tâm trạng “chứa chan yêu đời”

Qua hai bài thơ ngắn tôi xin tạm kết luận: Nếu khả năng diễn đạt của tác giả kém, để ý tứ trong bài thơ không nhất quán, có nhiều mâu thuẫn nội tại, bài thơ bị độc giả loại ngay từ lần đọc đầu tiên. Đây là một trong những tiêu chí quan trọng để thẩm định giá trị nghệ thuật một bài thơ.

Thực tế thì độc giả rất ít khi phải đọc những bài thơ quá non kém như thế. Thi sĩ bước vào sân chơi Thơ là đã chuẩn bị đầy đủ lưng vốn. Câu văn, câu thơ nếu chưa được hay thì cũng đã “sạch nước cản”. Có thể một giây phút lơ đãng nào đó tác giả vô tình để một hai chi tiết nhỏ mâu thuẫn hoặc không hợp với kịch bản của bài thơ. Nếu bài thơ có tầm vóc thì những người làm công việc phê bình sẽ vạch ra. Còn những bài thơ “thường thường bậc trung” thì tự động sẽ đi vào quên lãng

Một Câu Ca Dao

Trai tơ mà lấy nạ dòng

Như nước mắm nhĩ chấm lòng lợn thiu

Có người sửa lại:

Như nước mắm thối chấm lòng lợn thiu

và giải thích rằng “Nước mắm thối chấm lòng lợn thiu ăn chán lắm, giống như trai tơ mà lấy nạ dòng vậy.” Theo tôi, nói như thế là không đúng. Trai tơ là “đồ xịn” mà chơi với nạ dòng là “đồ dởm” thì uổng, cũng giống như nước mắm nhĩ là “đồ xịn” mà đem chấm lòng lợn thiu là “đồ dởm” thì phí quá. Do đó, phải giữ nguyên “nước mắm nhĩ” mới hợp với logic của ý câu ca dao.

Chữ Vui Làm Buồn Bài Thơ

NIỀM TIN

Lại một NOEL nữa
Mấy mùa Giáng Sinh rồi
Anh ở đồn biên giới
Thuơng về một khung trời

Chắc Ðà lạt vui lắm
Mimosa nở vàng
Anh đào khoe sắc thắm
Huơng ngào ngạt không gian

Mấy mùa Giáng Sinh truớc
Chỗ hẹn anh chờ hoài
Lần này không về đuợc
Hồi hộp đợi tin ai

Em biết chăng đời lính
Nắng sớm với sương chiều
Gió rừng rồi mưa núi
Ðã làm anh vui nhiều

Radio mở sẵn
Ðón thanh lễ truyền thanh
Xin CHÚA ban ơn xuống
Cho em và cho anh

Cùng cầu cho thế giới
Cho nhân loại hoà bình
Cho đôi ta gặp lại
Trong một mùa Giáng Sinh

nhấttuấn (1960) Anh Linh phổ nhạc



Tôi đến với Niềm Tin đầu tiên qua giai điệu nhạc của Anh Linh trước khi biết bài thơ gốc của Nhất Tuấn. Nghe bài nhạc đến đoạn “đã làm anh vui nhiều” tự nhiên tôi thấy chối tai, cảm xúc trong tâm hồn đang trôi theo tiếng hát bỗng khựng lại. Lòng tự hỏi “Trong khung cảnh đó tại sao lại “vui” nhỉ? Mà lại “vui nhiều” mới lạ chứ! Đã từng là anh lính chiến, đóng quân ở rừng sâu, núi cao, tôi đã biết thế nào là

Nắng sớm với sương chiều

Gió rừng và mưa núi

theo đúng nghĩa đen của từng chữ. Tôi quen với khung cảnh ấy, sống trong hoàn cảnh ấy không phải vài ngày, vài tuần mà tháng này qua tháng khác. Những lúc ấy ngồi trong lều nhìn cảnh núi rừng - từ sĩ quan đến lính - mắt thằng nào cũng như đang lạc vào một cõi xa xăm, mặt thằng nào cũng dài thuỗn ra, buồn rười rượi. Dĩ nhiên đời lính ở rừng sâu núi thẳm cũng có những lúc vui - những niềm vui nho nhỏ do người lính tự tạo ra - để quên nỗi nhớ thương quay quắt và để … sống. Nhưng chỉ cần một cái gì đó rất nhỏ nhặt gợi lên kỷ niệm với người thân thì từ sâu trong tâm hồn của họ nỗi buồn chia xa đang đầy ắp sẽ trào ra như thác đổ.

Câu “Đã làm anh vui nhiều” khiến Niềm Tin đang là tâm tình của người lính xa nhà bỗng trở thành một bài thơ, bài hát “phải đạo” (politically correct). Lời thơ, tiếng nhạc đang là những cảm xúc chân thật của con người bất chợt biến thành những lời đầu môi chót lưỡi, dối người và tự dối lòng mình.

Hơn nữa, xét về kỹ thuật thơ thì câu “Đã làm anh vui nhiều” là câu thơ “tréo cẳng ngỗng” lội ngược chiều với dòng chảy lững lờ buồn bã của tứ thơ.

Đúng là chữ “vui” đã làm buồn bài thơ.

Cô Vũ Thị Khánh Dần, cựu giáo viên trường CĐSP Hà Giang, đã bình phẩm “Đúng là câu thơ làm hỏng tứ thơ, vì nó không phù hợp với logic tình cảm hay dòng chảy cảm xúc của con người. Chỉ khi nắng cháy, hạn khô thì mới có thể vui khi mưa gió. Thi sỹ Huy cận đã viết bài thơ rất nổi tiếng về nỗi buồn thê thiết đêm mưa, trong nỗi cô đơn của con người khi ý thức về cá nhân trước cuộc sống, vậy mà làm sao có thể ‘vui nhiều’ được khi có ‘gió núi mưa rừng’; tôi không tin điều đó.” (Facebook Dan Khanh)

Anh Bằng Sửa Thơ Yên Thao

Tôi đứng bên này sông

Bên kia vùng giặc đóng

là 2 câu mở đầu trong bài thơ Nhà Tôi của Yên Thao.


Khi phổ nhạc bài thơ nhạc sĩ Anh Bằng sửa lại:

Tôi đứng bên này sông

Bên kia vùng lửa khói

Nhà Tôi là tâm trạng hồi hộp, lo âu của một người lính trước giờ nổ súng mà mục tiêu của trận đánh lại chính là ngôi làng bên kia sông, có căn nhà nơi những người thân yêu nhất của mình, bà mẹ già và cô vợ trẻ, đang cư trú. Trước hết, đưa cụm từ “vùng lửa khói” vào không ăn khớp với thực tế trận địa; chưa nổ súng thì làm gì có “lửa khói!” Hơn nữa, chi tiết làng tôi là “vùng giặc đóng” khiến việc đánh bật trại giặc để chiếm lĩnh mục tiêu trong một trận đánh có cả pháo binh sẽ rất nguy hiểm cho căn nhà và những người sống trong đó. Điều này làm nỗi lo của người lính thật hơn, khơi dậy nơi người đọc cảm xúc mạnh hơn. Anh Bằng đã làm tứ thơ dở đi rất nhiều khi thay cụm từ trên.

Chăn Trâu Đốt Lửa

Chăn trâu đốt lửa trên đồng

Rạ rơm thì ít, gió đông thì nhiều

Mải mê đuổi một con diều

Củ khoai nướng để cả chiều thành tro.

(Chăn Trâu Đốt Lửa, Đồng Đức Bốn)

Đạo quân chính trong trận Chăn Trâu Đốt Lửa - hồn cốt của bài thơ (tứ thơ) - nằm trong 2 câu cuối:

Mải mê đuổi một con diều

Củ khoai nướng để cả chiều thành tro.

Hai câu đầu là phần dẫn nhập, cái cớ để tứ thơ xuất hiện, làm nhiệm vụ yểm trợ:

Chăn trâu đốt lửa trên đồng

Rạ rơm thì ít gió đông thì nhiều.

Trong bài Lục Bát Và Chăn Trâu Đốt Lửa ông Nguyễn Lâm Cúc đã viết:

Khung cảnh trong bài thơ là cánh đồng miền Bắc, nơi mà dù vụ gặt vừa mới xong rạ rơm cũng không còn lại bao nhiêu, vì suốt cả một vùng đồng bằng dọc theo châu thổ sông Hồng, người nông dân quí rạ không khác gì sản phẩm khác. Họ tận thu rơm rạ để làm thức ăn cho trâu, bò; để đun nấu, để làm vách đất nữa. Vì vậy, cánh đồng sau vụ gặt mùa Đông chỉ còn rất nhiều gió và cái lạnh thấu xương. (http://nguyenlamcuc.vnweblogs.com/print/2509/129996)

Trong bài “Chăn Trâu Đốt Lửa”: Sâu Sắc Một Triết Lý Nhân Sinh nhà phê bình Đức Thọ cũng đề cập đến sự hiếm hoi của rơm rạ sau vụ gặt Đông:

Câu thơ thứ hai nhà thơ khẳng định “Rạ rơm thì ít, gió đông thì nhiều”. Đúng vậy, trong mùa hanh heo mà đã gió đông thì khi thổi cháy bao nhiêu rơm rạ cho vừa. (http://lucbat.com/news.php?id=3470)

Trong đầu tôi tức khắc hiện ra câu hỏi: Trong hoàn cảnh đó làm sao có đủ than lửa để củ khoai cháy thành tro được?

Tôi có điện thoại hỏi một ông chú họ xa ở ngoại thành Hà Nội thì được cho biết: Nếu chịu khó kiếm cành khô, củi mục ở nơi khác gom lại thì với chút ít rơm rạ còn sót ở cánh đồng cũng có thể tạo được “bếp lửa” để nướng khoai nhưng phải chăm chút, che chắn cẩn thận, chứ như thi sĩ của chúng ta “Mải mê đuổi một con diều” thì chỉ chốc lát là rơm rạ đã bay tung tóe, lửa tắt, củ khoai chưa chắc đã chín chứ làm gì có cái cảnh “Củ khoai nướng để cả chiều thành tro.” Mà dù - cứ cho là với cái tài gầy bếp đặc biệt của trẻ chăn trâu - củ khoai nướng đã thực sự thành tro thì theo tôi, câu thơ “Rạ rơm thì ít, gió đông thì nhiều” cũng đã “đi ngược đường” với tứ thơ.

Trong chiến tranh đôi khi có những người lính làm nội gián cho địch để cản trở, để phá hoại việc thực hiện nhiệm vụ của đơn vị. Trường hợp Chăn Trâu Đốt Lửa thì “Rạ rơm thì ít, gió đông thì nhiều” chính là câu thơ nội gián. Không những nó không giúp làm tăng độ khả tín, sức thuyết phục của tứ thơ mà ngược lại, đã trở thành một chướng ngại vật ngăn cản hành trình qua đó độc giả tiếp cận tứ thơ để rồi đi đến chỗ đồng cảm với tác giả.

Tạo ra và dung dưỡng một câu thơ nội gián, theo tôi, là một lỗi nặng của thi sĩ. Tùy mức độ khắt khe của độc giả, bài thơ có thể bị đánh giá là hỏng, giảm giá trị nghệ thuật hoặc chí ít cũng là không được hay đẹp trọn vẹn.

Chữ “Níu” Trong “Nếu Anh Còn Trẻ” Của Hoàng Cầm  (1)

Tôi đã tốn khá nhiều thời gian để trả lời bạn đọc về chữ “níu” này. Hôm nay tình cờ đọc được bài thơ của Xuân Quỳnh cũng nói đến cái ý đó nên nhân tiện bàn thêm vài lời. Chúng ta hãy nghe nữ sĩ Xuân Quỳnh tâm sự:

Mái tóc xanh bắt đầu pha sợi bạc

Nỗi vui buồn cũng khác những ngày xưa

Chi chút thời gian từng phút từng giờ

Như kẻ khó, tính từng hào keo kiệt

(Có Một Thời Như Thế, thivien.net)

Khi “mái tóc xanh bắt đầu pha sợ bạc”, quỹ thời gian không còn nhiều nữa thì việc “chi chút thời gian từng phút từng giờ/ Như kẻ khó tính từng hào keo kiệt” là cần thiết; “níu xuân xanh” đưa vào hoàn cảnh ấy là hợp tình hợp lý, người đọc ai cũng có thể thông cảm và chấp nhận dễ dàng. Còn như Hoàng Cầm, mới 19 tuổi đã viết:

“Nếu anh còn trẻ như năm ấy” (2)

nghĩa là xuân xanh còn dài đằng đẵng, không chịu ung dung hưởng thụ mà lại:

“Anh đàn em hát níu xuân xanh”

thì đúng là tính khí của anh nhà giầu keo kiệt - tiền đầy túi mà chi li từng xu, từng hào. Cách ứng xử ấy chẳng nên thơ tí nào nếu không muốn nói là rất xấu. Chữ “níu” không những không hay mà lại còn không đúng nữa.

Chuyện Sửa Thơ Xuân Quỳnh

Sau khi bài viết Thuyền Và Biển: Ngọt Bùi Cay Đắng Của Tình Yêu lên đường được mấy ngày tôi nhận được vài thư góp ý trong đó thư của anh Phan Hồng Ngọc từ Sài Gòn đã gây cho tôi sự chú tâm đặc biệt. Nội dung thư như sau:

Thưa ông Phạm Đức Nhì,

Trong bài Thuyền Và Biển: Ngọt Bùi Cay Đắng Của Tình Yêu ông viết:

Phép ẩn dụ của bài thơ, nếu tinh ý, người đọc có thể nhận ra sau khi đọc 2 đoạn đầu. Còn nếu “chậm tiêu” một tý thì từ từ rồi cũng thấy, cũng hiểu. Thuyền là chàng, biển là nàng, bài thơ là chuyện tình yêu của chàng với nàng, nàng là tác giả, là nhân vật chính trong bài thơ. Trong đoạn thơ:

Những đêm trăng hiền từ

Biển như cô gái nhỏ

Thầm thì gởi tâm tư

Bên mạn thuyền sóng vỗ

thì biển là cô gái (ẩn dụ) cho nên trong câu “Biển như cô gái nhỏ” chữ “như” không những đã thừa, gây cảm giác “không thoải mái” cho người đọc mà lại còn làm lộ phép ẩn dụ nữa. Nếu tác giả chọn được cách nói khác, không nhắc gì đến cô gái mà vẫn diễn tả được cái ý ấy thì hay hơn.

Tương tự như vậy, trong đoạn thơ:

Cũng có khi vô cớ

Biển ào ạt xô thuyền

(Vì tình yêu muôn thuở

Có bao giờ đứng yên!)

Tác giả quên rằng mình đang đóng vai Biển với thân hình và bộ mặt (đã hóa trang) của Biển. Ngôn ngữ rất riêng, rất lạ của Biển và Thuyền đang thu hút sự chú ý của độc giả. Tự nhiên buột miệng nói ra “tiếng người” khiến vai diễn của vở kịch trở thành bất nhất. Hai câu sau nếu tránh được từ “tình yêu” mà vẫn giữ được ý ấy thì quá hay.

Theo gợi ý của ông tôi đã lò mò mấy ngày mới nghĩ ra được cách tránh mấy từ mà ông đã cẩn thận cho in chữ đậm ở 2 đoạn thơ trên. Và đây là 2 đoạn thơ có bàn tay sửa chữa của tôi:

Những đêm trăng hiền từ

Biển thầm thì to nhỏ

Những điều rất riêng tư

Bên mạn thuyền sóng vỗ.

Cũng có khi vô cớ

Biển ào ạt xô thuyền

Nên thuyền trên mặt biển

Có bao giờ được yên!

Xin ông - dưới con mắt của một người bình thơ – cho biết ý kiến. Chân thành cảm ơn ông trước.

Ký tên Phan Hồng Ngọc.

Thư qua thư lại vài lần, được sự đồng ý của anh Ngọc, tôi viết bài này trước là trả lời anh Ngọc, sau là bổ khuyết cho bài bình thơ của tôi.

Việc làm đầu tiên của tôi khi nhận thư là yêu cầu anh thay chữ “được”. Lý do: viết như thế là gieo tiếng “ác” cho phụ nữ, ám chỉ các nàng luôn hành hạ các đấng nam nhi (cả trong nghĩa chăn gối yêu đương lẫn không khí xào xáo trong gia đình), lúc gần nhau, chẳng bao giờ cho phép họ được yên. Anh PHN cũng đề nghị chữ “chịu” nhưng theo tôi thì nếu bảo:

Nên thuyền trên mặt biển

Có bao giờ chịu yên

trước hết, nghịch ý với 2 câu “Cũng có khi vô cớ/ Biển ào ạt xô thuyền. Theo Xuân Quỳnh thì Biển là tác nhân đối với tình trạng không yên của thuyền, nghĩa là thuyền ở thế thụ động nên không có quyền quyết định “chịu” hay không “chịu”. Hơn nữa, nói như thế là gieo tiếng “quậy” rất bất công cho phía nam giới.

Cuối cùng chúng tôi đồng ý giữ nguyên từ “đứng yên” của tác giả vì nó trung tính. Thuyền trên mặt biển không đứng yên là do lẽ tự nhiên của trời đất, “không phải tại anh cũng không phải tại em” mà do “gặp thời thế thế thời phải thế”.

Và bây giờ xin bàn đến kết quả sửa thơ của anh Phan Hồng Ngọc.

Đoạn thứ 3 của bài thơ được sửa lại thành:

Những đêm trăng hiền từ

Biển thầm thì to nhỏ

Những điều rất riêng tư

Bên mạn thuyền sóng vỗ.

Cô gái không được nhắc tới nhưng vẫn hiện diện trong đoạn thơ (dưới cái tên Biển); trong khi đó cả tứ lẫn ý cũng như âm điệu của bài thơ vẫn được giữ nguyên theo đúng ý của tác giả. Ở đoạn thứ 3 này công việc sửa thơ của anh PHN đã đạt được mục đích của mình, đã thành công mỹ mãn.

Đoạn thứ 4 của bài thơ được sửa lại thành:

Cũng có khi vô cớ

biển ào ạt xô thuyền

nên thuyền trên mặt biển

có bao giờ đứng yên!

Đúng như anh Phan Hồng Ngọc dự tính, cách nói, suy nghĩ của “con người” đã biến mất. Thay vào đó là một thứ ngôn ngữ rất “Thuyền Và Biển”, rất hay và rất lạ. Âm điệu của bài thơ không thay đổi và ý của tác giả vẫn được giữ nguyên. Hay hơn nữa là 2 câu:

Nên thuyền trên mặt biển

Có bao giờ đứng yên.

lại rất khêu gợi, rất “tình”, đã bóng gió diễn tả cái cảnh “yêu nhau” của đôi trai gái. Ở đây việc sửa thơ của anh PHN không những đã chữa được chứng bệnh “lộn xộn trong phép ẩn dụ” mà còn làm cho đoạn thơ càng đáng yêu hơn nữa.

Như vậy, xin được trả lời anh Phan Hồng Ngọc: Dưới con mắt của một người bình thơ, việc sửa thơ của anh rất tuyệt. Cám ơn anh đã gởi thư góp ý.

Áp Dụng Tiêu Chí 3

Nên đọc bài thơ nhiều lần để tứ thơ có thời gian (ít nhất một tuần) thấm thật sâu vào người rồi hãy viết lời bình. Trước khi áp dụng tiêu chí 3 hãy đọc thêm một lần thật chậm. Nếu gặp điểm nào không hợp tình hợp lý thì vạch ra rồi giải thích và chứng minh tại sao nó không hợp lý hợp tình. Sau đó xem mức độ ảnh hưởng của khuyết điểm đó đối với bài thơ nặng hay nhẹ, nhiều hay ít, rồi viết nhận định của mình ra. Chú ý cân nhắc sức nặng của ngôn ngữ cho chính xác. Đừng quên đem nó vào để “trừ điểm” trong phần đánh giá chung cuộc.

Đọc không kỹ, bỏ sót những “mô, gò”, vật cản trên dòng chảy của tứ thơ rồi lại cao hứng khen “quá đà”, người khác thấy được chỉ ra thì … ê mặt.

Nếu thấy ý tứ thật sự suôn sẻ, dòng cảm xúc chảy trơn tru, không có vật cản giữa đường thì có thể viết vài câu khen ngợi bằng ngôn ngữ riêng của mình. Sau đây là vài gợi ý:

1/ Cấu trúc thơ mạch lạc, trong sáng, dễ hiểu, dễ cảm.

2/ Tâm trạng diễn biến hợp lý, hợp tình.

3/ chức năng truyền thông của bài thơ thành công.

4/ Dòng chảy của tứ thơ thông thoáng, tứ thơ như ngựa phi bon bon trên đường. (Có những bài thơ trong đó tứ thơ phân mảnh, đứt đoạn mà hoàn toàn không có chỗ nào có câu chữ “ngược đường” hoặc mô, gò cản trở. Phân mảnh, đứt đoạn là do bó buộc của thể thơ.)

5/ Có chữ “đắt”, “đắc địa” (rất hợp, rất hay, không thể thay bằng chữ nào khác), chỉ ra rồi giải thích và chứng minh. Không nên như một nhà phê bình khi bình bài Phương Xa của Vũ Hoàng Chương đã phán “bài thơ … đắc địa đến từng chữ một”. Phán như vậy là “liều mạng”, sai đến 99, 99%.

Kết Luận

Áp dụng tiêu chí này phải hết mực cẩn thận. Khen chê không đúng, đặc biệt là chê (ngay cả khi chê đúng) sẽ gặp phản ứng mạnh từ những người yêu thích bài thơ đó. Muốn chắc ăn, đặc biệt là những bài bình đầu tiên, nên tham khảo ý kiến vài người bạn (có kiến thức và kinh nghiệm hơn mình) để vững bụng trước khi viết hoặc trước khi phổ biến. Chuẩn bị tinh thần để bước vào tranh luận

Đây là một trong vài tiêu chí cần đến một chút kiến thức và bản lãnh của người bình. Đụng vào tiêu chí này người bình phải quyết đoán, không thể nói lơ lửng nước đôi. Nhưng càng nhiều rủi ro phần thưởng càng hậu hĩ (high risk, high reward). Đúng vài lần bạn sẽ tự tin hơn, bài viết của bạn sẽ đi vào trọng điểm hơn, và dĩ nhiên, sẽ được độc giả yêu mến và tìm đọc nhiều hơn.

Phạm Đức Nhì



Chú Thích:

1/ Tôi nhận được thư góp ý của anh Phú Đoàn như sau:

Bài thơ "Nếu Anh Còn Trẻ" như bạn đề cập (tựa đề này của bài thơ khá phổ biến trên mạng). Thực ra, tựa đề gốc của bài thơ là THU XA của Hoàng Cầm, khi Phạm Duy phổ nhạc thì mang tựa đề là TÌNH CẦM. Nếu quý bác còn giữ các tập san VĂN, VĂN HỌC, BÁCH KHOA trước năm 1975, số viết về Hoàng Cầm sẽ thấy một số bài viết về bài thơ THU XA này.

Tôi có biết tựa bản Tình Cầm do Phạm Duy phổ nhạc và đổi tên. Còn tên gốc của bài thơ là Thu Xa thì tôi không biết. Thành thật cám ơn anh Phú Đoàn đã tra cứu kỹ lưỡng và gởi cho những thông tin bổ ích.

2/ Toàn văn đoạn thơ:

Nếu anh còn trẻ như năm ấy

Quyết đón em về sống với anh

Những khoảng chiều buồn phơ phất lại

Anh đàn em hát níu xuân xanh

.

Thứ Tư, 1 tháng 3, 2017

CHỮ TRONG TỰ ĐIỂN VÀ CHỮ TRONG VĂN BẢN


          CHỮ TRONG TỰ ĐIỂN VÀ CHỮ TRONG VĂN BẢN

Có thể nói Tự Điển là một “nhà kho” chứa phần lớn hoặc đại đa số “chữ”, “từ” trong tiếng nói, chữ viết của một sắc dân hay một dân tộc. Tôi không dám dùng “tất cả” vì mỗi ngày – do sự vận động của cuộc sống - một số “chữ”, “từ” mới được phát sinh. Chữ trong tự điển là chữ “chết”, chữ trong văn bản là chữ “sống” vì nó được đặt vào một khung cảnh đặc biệt của cuộc sống. Nó hoặc là đang trôi theo dòng chảy của tứ thơ hoặc chạy theo dòng chuyển động ý tưởng của một câu, đoạn văn. Muốn bàn về nghĩa của một chữ hay một từ phải đặt nó trong khung cảnh của cuộc sống - một câu, đoạn thơ hoặc văn.

Đây là 2 đoạn đầu trong bài Đất Nước Mình Ngộ Quá Phải Không Anh? của cô giáo Trần thị Lam.

Đất nước mình ngộ quá phải không anh?
Bốn ngàn tuổi mà
sao không chịu lớn
Bốn ngàn tuổi mà vẫn còn bú mớm
Trước những bất công vẫn không biết kêu đòi…


Đất nước mình lạ quá phải không anh?
Những chiếc bánh chưng vô cùng kì vĩ
Những dự án và tượng đài nghìn tỉ
Sinh mạng con người chỉ như cái móng tay…


Trong bài Đọc Bài Thơ Nhục Nhã Ê Chề Đau Xé Ruột tôi đưa ra nhận xét là câu đầu của mỗi đoạn là 2 câu thơ trùng ý. Ngộ ở câu trên và Lạ ở câu dưới đều có nghĩa “không giống ai”. Một bạn văn của tôi ở hải ngoại, chị Lê Thị Hoài Niệm, đã nhảy ra bênh cô giáo Trần Thị Lam (và không quên tặng tôi một cú giò lái):

Ngộ là ngộ, là hay quá, dễ thương quá, tiếng...địa phương được dùng rất dễ thương. Có thể nói: “cô gái ấy ngộ quá",  là xinh quá đó......Riêng tôi, có thể nói “cô giáo Lam này làm bài thơ ngộ quá, tôi rất thích”, là bài thơ quá hay.

Cũng có thể khi người ta … bất bình một ai đó, mà không muốn … nặng lời , người ta có thể nói "cái ông này...ngộ ghê chưa (hay cái ông này.... lạ ghê chưa), chuyện đó ông... xía dzô làm gì?"  có thể từ câu này nhà thơ cho là hai từ ngữ ...đồng nghĩa?

Còn lạ là...lạ, ai mà không biết mình là...người lạ, chẳng quen nhau nên không có vấn đề gì để...tranh cãi...

Làm sao hai từ ngữ này hoàn toàn ... đồng nghĩa và trùng ý? người đọc rất dễ dàng nhận ra sự khác biệt mà.

Và tôi đã trả lời:

Để ‘nói có sách, mách có chứng” tôi đã tra cứu vài cuốn tự điển Việt Nam thì thấy “ngộ” (tĩnh từ) có 2 nghĩa: 1/ lạ, trái thường (TĐ Khai Trí Tiến Đức) và lạ lùng, kỳ quặc, khác thường (những tự điển tiếng Việt trên mạng khác). 2/ ngộ nghĩnh, kháu khỉnh, đẹp, dễ thương.

Như vậy chị HN đã đúng một nửa – “ngộ” cũng có nghĩa là ngộ nghĩnh, đẹp, dễ thương. Nhưng khi đọc thơ không thể cứ lấy một nghĩa trong tự điển để gán cho một chữ nào đó trong câu thơ, bài thơ. Người đọc thơ phải đặt chữ đó trong khung cảnh bài thơ để truy tìm nghĩa của nó. Chúng ta thử đọc lại đoạn đầu của bài thơ:

Đất nước mình ngộ quá phải không anh?

Bốn ngàn tuổi mà sao không chịu lớn

Bốn ngàn tuổi mà vẫn còn bú mớm

Trước những bất công vẫn không biết kêu đòi

Hoàn cảnh đất nước như thế thì có gì “đẹp, dễ thương” đâu! Vì thế chữ “ngộ” ở đây không thể hiểu là “ngộ nghĩnh, dễ thương” được, vì nếu đất nước mình “ngộ nghĩnh, dễ thương” thì cô giáo Trần Thị Lam đâu phải viết những vần thơ đau xé ruột như thế. Như vậy chữ “ngộ” chỉ có thể được hiểu là “lạ lùng, kỳ quặc, khác thường, không giống ai”. Chị Hoài Niệm đã hiểu nghĩa chữ “ngộ” sai vì đã không đặt nó trong khung cảnh bài thơ.


Nếu tự điển có nhiều nghĩa, người đọc phải chọn nghĩa “theo dòng chảy của tứ thơ” hoặc “theo dòng chuyển động ý tưởng của đoạn văn. Tác giả đã “mang nặng đẻ đau” tạo ra tác phẩm, người đọc không có quyền (và không nên) áp đặt một nghĩa nào đó vào một từ nào đó trong văn bản dù nghĩa đó có trong tự điển và thường được những tác giả khác sử dụng. Dĩ nhiên, người đọc có quyền bình phẩm cái hay, dở của tác giả trong việc đưa từ đó (với nghĩa mà ông muốn) vào văn bản. Đó là quyền của người đọc. Nhưng đem một nghĩa khác trong tự điển (nghĩa chết), khác với nghĩa của tác giả, áp đặt vào một từ trong văn bản (từ sống) rồi bình tán loạn xạ - khiến khen ngợi biến thành chê bai (và ngược lại) - theo tôi, dù đầy thiện ý, vẫn là một hành động sai trái vì đã ảnh hưởng đến uy tín, và có khi, nhân cách của tác giả.

Phạm Đức Nhì
nhidpham@gmail.com

Thứ Hai, 27 tháng 2, 2017

ĐOẠN KẾT CỦA BÀI THƠ DƯỚI MẮT NGƯỜI PHÊ BÌNH


                                

Nguyễn Hưng Quốc có lần viết, đại ý “Làm thơ mà không biết kết luận cũng giống như người đánh cờ không biết chiếu tướng”. Tôi thích túc cầu nên nghĩ rằng: “Làm thơ không biết kết luận giống như đội bóng chỉ giỏi vờn bóng giữa sân mà không có chân sút dứt điểm, không biết phối hợp để đưa bóng vào lưới đối phương”. Cho nên, không giống như Tựa Đề, Đoạn Kết của bài thơ sẽ được người bình để ý rất kỹ.

Hai Điểm Khác Biệt Giữa Tựa Đề Và Đoạn Kết

Giống như Tựa Đề, Đoạn Kết cũng tóm gọn những điều cốt yếu của tứ thơ. Nhưng có hai khác biệt chính:

1/ Khởi đi từ Tựa Đề, tứ thơ chỉ là cái mầm, mới tượng hình. Sau tiến trình thai nghén, sinh nở (trong tâm hồn của tác giả) tứ thơ ở cuối bài – dù vẫn từ cái Gien của Tựa Đề - đã có khuôn mặt mới, vóc dáng mới, bề thế hơn, thực hơn, sinh động hơn. Thí dụ:

     a/ Khởi đầu cũng là tâm trạng mòn mỏi, đợi chờ tình lang nhưng theo dòng cảm xúc (của tác giả) cái tâm trạng mòn mỏi, đợi chờ ấy đã càng lúc càng lớn mạnh để rồi cuối cùng đã lên đến đỉnh điểm khi cô em nhìn ra sân và “báo cáo” với chị:

Ngựa hồng đã đến bên hiên

chị ơi trên ngựa chiếc yên vắng người.

(Mòn Mỏi, Thanh Tịnh) 



Những gì xảy ra sau đó với người chị - tác giả không cần phải nói - người đọc sẽ tự hiểu. (Show, Not Tell)

     b/ Khởi đầu là câu chuyện của Thuyền và Biển nhưng qua tiến trình cưu mang, chuyển hóa trong tâm hồn của tác giả câu chuyện ấy đã biến thành chuyện đôi trai gái yêu nhau và cuối cùng tình yêu đã sâu đậm đến mức:

Nếu phải cách xa anh

em chỉ còn bão tố.

(Thuyền Và Biển, Xuân Quỳnh) 

http://www.thivien.net/Xu%C3%A2n-Qu%E1%BB%B3nh/Thuy%E1%BB%81n-v%C3%A0-bi%E1%BB%83n/poem--wG6-xYO5WbH7ZZweyXXoA 

2/ Tứ thơ đã thay đổi vóc dáng hình hài và lớn mạnh như thế nên nếu muốn “tóm gọn những điều cốt yếu của tứ thơ” Đoạn Kết cần nhiều “đất” hơn; một chữ hoặc một nhóm chữ (như Tựa Đề) không đủ để hoàn thành nhiệm vụ. Do đó, Đoạn Kết ít thì phải là một vài câu, nhiều thì có khi cả một đoạn.

Hai Cách Kết Thúc Bài Thơ

1/ Tóm gọn những điều cốt yếu của tứ thơ”

Và là đoạn đường cuối cùng đưa người đọc vào điểm đến (destination) của tứ thơ.  Khi tiếp cận điểm đến – tác giả đã cảm thấy hài lòng, đạt được mục đích - không cần hoặc không muốn nói thêm gì nữa. Thí dụ:

     a/ Nghe đồn rằng đám cưới của cô to lắm:

Nhà giai thuê chín chiếc đò đón dâu
Nhà gái ăn
chín nghìn cau
Tiền cheo, tiền cưới chừng đâu
chín nghìn


Nhưng kiểm lại tài sản của mình thì anh lái đò chỉ có mỗi con thuyền đưa khách mà đem dạm bán thì người ta chỉ giả có chín quan tiền

Lang thang tôi dạm bán thuyền

Có người giả chín quan tiền, lại thôi

Hai câu kết chỉ nói đến việc dọ giá bán thuyền nhưng đã ngầm chứa nỗi đau đến xé tâm can của anh lái đò về mối tình vô vọng. Thủ pháp Show, Not Tell rất tuyệt. (Giấc Mơ Anh Lái Đò, Nguyễn Bính)

     b/ Sau Hiệp Định Paris, hai người lính - từng đối đầu trong cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn (Việt Nam) - đứng sát vai nhau nghĩ về những năm tháng hòa bình sắp tới:

Mê muội qua rồi

chia tay trên lối rẽ
gửi cho nhau

lời xin lỗi muộn màng
một cánh mai tươi

một nén hương vàng
ta về

tặng những người đồng đội
ta bá vai nhau

để những người kia xóa tội
dưới suối vàng
Họ...!
chắc cũng đã ôm nhau...!  

(Hai Người Lính, Nguyên Thạch) 



Đoạn kết thắm đượm tình người, đầy tính nhân văn, nhân bản.
https://buonvuidoilinh.wordpress.com/2015/05/30/pham-duc-nhi-bai-tho-hai-nguoi-linh/


2/ Lập lại, xác nhận lại điểm chính của tứ thơ một cách mạnh mẽ và hùng hồn hơn.

Tứ thơ đã vào điểm đến nhưng thi sĩ muốn viết thêm một đoạn, có khi chỉ lập lại, xác nhận lại điểm chính của tứ thơ nhưng với ngôn ngữ khác, giọng điệu khác, mạnh mẽ và tạo ấn tượng sâu sắc hơn. Thí dụ:

     a/ Chân Quê

Bắt đầu từ câu “Nào đâu cái yếm lụa Sồi” đến 2 câu cuối của thân bài “Như hôm em đi lễ chùa - Cứ ăn mặc thế cho vừa lòng anh” tác giả đã cho con thuyền tứ thơ cập bến. Đã có 2 câu kết hoàn thành nhiệm vụ. Bài thơ có thể ngừng ở đó. Nhưng Nguyễn Bính muốn nhấn mạnh hơn ý nghĩa của “Chân Quê” nên ông đã viết thêm:

Hoa chanh nở giữa vườn chanh
Thày u mình với chúng mình chân quê
Hôm qua em đi tỉnh về
Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều.

(Chân Quê, Nguyễn Bính)
http://www.thivien.net/Nguy%E1%BB%85n-B%C3%ADnh/Ch%C3%A2n-qu%C3%AA/poem-ij6KVOw8Gx-x4Do3SXKIsQ

Đoạn kết này giống như một CODA trong bản nhạc, để lại ấn tượng mạnh mẽ, sâu đậm hơn trong lòng người đọc (người nghe).

     b/ Lời Mẹ Dặn

Tương tự như vậy, bài Lời Mẹ Dặn cũng có thể chấm dứt ở đoạn:

Người làm xiếc đi giây rất khó
Nhưng chưa khó bằng làm nhà văn
Đi trọn đời trên con đường chân thật.
Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng không nói yêu thành ghét
Dù ai cầm dao dọa giết
Cũng không nói ghét thành yêụ

Nhưng Phùng Quán muốn tạo ấn tượng mạnh hơn nữa nên đã viết thêm đoạn:


Tôi muốn làm nhà văn chân thật
chân thật trọn đời
Đường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi
Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã
Bút giấy tôi ai cướp giật đi
Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá.

Và ông đã thành công mỹ mãn

Một Số Đoạn Kết Hay

1/ NIỀM TIN


Cùng cầu cho thế giới

Cho nhân loại hòa bình

Cho đôi ta gặp lại

Trong một mùa Giáng Sinh

(Nhất Tuấn)


Lời cầu nguyện cho hạnh phúc riêng tư của người lính đã được khéo léo ghép chung với – nhưng được khiêm tốn đặt ở phía sau - ước vọng hòa bình cho toàn thế giới. Trong không khí “đất với trời se chữ đồng” của mùa Giáng Sinh – lúc “Thiên Địa Nhân quy nhất” (Trời, đất, người nhập một) - dòng cảm xúc chân thật, cao đẹp ấy đã thấm rất nhanh vào tâm hồn độc giả. Thi sĩ, một người trai thời loạn, đã chọn được cách hành xử tối ưu; ông không thể tự cởi bỏ chiếc áo lính nhưng đã rất tài tình đặt bên dưới lớp vải kaki một trái tim đầy lòng nhân ái. 

2/ NHÀ TÔI

Này, anh đồng chí
Người bạn pháo binh
Đã đến giờ chưa nhỉ
Mà tôi nghe như trại giặc tan tành?
Anh rót cho khéo nhé
Kẻo nhầm nhà tôi!
Nhà tôi ở cuối thôn Đồi
Có giàn Thiên Lý, có người tôi thương.

(Yên Thao)

Đoạn kết là tâm trạng rối bời của người lính trước giờ nổ súng. Mục tiêu của trận đánh là làng bên kia sông đang bị quân địch chiếm giữ, nơi có căn nhà và hai người thân yêu nhất của anh lính – bà mẹ già và cô vợ trẻ mới cưới – đang sinh sống. Lời thì thầm năn nỉ người bạn pháo binh cũng là lời nguyện cầu cho căn nhà còn nguyên vẹn và những người thân yêu được tai qua, nạn khỏi. Nỗi lo sợ của anh rất lớn, rất thật vì xác xuất để lời nguyện cầu được đáp ứng quá nhỏ nhoi. Chỉ có mấy câu nhưng cảm xúc đầy ắp làm nổi bật sự tàn nhẫn, bất nhân của chiến tranh.

3/ NGẬM NGÙI

Tay anh em hãy tựa đầu

Cho anh nghe nặng trái sầu rụng rơi

(Huy Cận)


Tác giả cũng sử dụng thủ pháp Show, Not Tell – Tay anh đây, em hãy tựa đầu (như ngày xưa) để “trái sầu” vì nhớ thương, xa cách của anh rụng rơi chứ không còn treo lủng lẳng trên vai, trên cổ anh nữa. Người đọc phải tự hiểu phần sau “Nhưng em đã chết, chẳng có ai tựa đầu lên tay anh cả, nên trái sầu thương nhớ vẫn trĩu nặng trong hồn”. Cái “hồn cốt” của tứ thơ đã được gói gọn trong 2 câu kết một cách rất nghệ thuật.


4/ SAY ĐI EM

Nhưng em ơi,
Đất trời nghiêng ngửa
Mà trước mắt thành Sầu chưa sụp đổ.
Đất trời nghiêng ngửa,
Thành Sầu không sụp đổ, em ơi!

(Vũ Hoàng Chưong)

Từ cái tựa Say Đi Em người đọc mới chỉ mường tượng tác giả đang mời mọc, có chút thúc hối, người tình (hoặc bạn bè) cùng mình nâng ly, cạn chén cho say. Đến đoạn kết thì mục đích của việc uống say đã được hé lộ: mượn rượu giải sầu Nhưng VHC đã thất vọng; say đến “đất trời nghiêng ngửa” mà nỗi sầu cứ sừng sững như bức tường thành, chưa sụp đổ. Và cuối cùng là tuyệt vọng - chữ “chưa” đã đổi thành “không”- “Thành sầu không sụp đổ, em ơi!” Âm điệu ở đây, với tôi, rõ ràng là một Gai Kết Hoàn Toàn; chữ “ơi” đã về đúng cao độ của chủ âm và có độ ngân thật dài và thảm thiết. Thi sĩ của chúng ta đã cho thơ nhạc quyện vào nhau để bày tỏ tâm trạng chán chường của mình một cách tài tình.

Một Số Đoạn Kết Dở


1/ PHƯƠNG XA

Men đã ngấm bọn ta chờ nắng tắt

Treo buồm cao cùng cao tiếng hò khoan

Gió đã nổi nhịp trăng chiều hiu hắt

Thuyền ơi thuyền! Theo gió hãy cho ngoan.

(Vũ Hoàng Chương)


Khổ cuối chỉ có câu “Thuyền ơi thuyền! Theo gió hãy cho ngoan” là cần thiết (ý nói thuyền vẫn tiếp tục trôi, dòng đời vẫn tiếp diễn); ba câu trước được đưa vào, theo tôi, chỉ để cho đủ số chữ, số câu của một khổ thơ (thể thơ bát ngôn trường thiên) không giúp ích gì (về ý tứ) cho bài thơ.  Khổ thơ có 32 chữ mà đến 24 chữ chẳng được tích sự gì. Thật thừa thãi và phí phạm. Đoạn kết, theo tôi, thất bại.


2/ NGƯỜI HÀNG XÓM

Hồi hộp theo dõi biến chuyển tâm trạng của Nguyễn Bính đối với Người Hàng Xóm từ khi “chửa có gì” cho đến lúc:

Hỡi ơi! Bướm trắng tơ vàng!
Mau về mà chịu tang nàng đi thôi!
Ðêm qua nàng đã chết rồi,
Nghẹn ngào tôi khóc... Quả tôi yêu nàng.

độc giả vừa ngạc nhiên một cách thích thú vừa đồng cảm với nỗi đau buồn, thất vọng của ông về mối tình đơn phương. Tứ thơ đã đến bến, đã bày tỏ thành công điều tác giả muốn bày tỏ. Bài thơ chấm dứt ở đấy thì vừa đẹp. Hai câu thêm vào

Hồn trinh còn ở trần gian

Nhập vào bướm trắng mà sang bên này

không những không mạnh hơn mà còn yếu đi, làm nhạt bớt ấn tượng tốt trong lòng độc giả.

Khi Bình Thơ, Nên Đối Xử Với Đoạn Kết Như Thế Nào?

Mỗi người bình đều có cách riêng của mình. Đây là cách tôi “xử” đoạn kết:

1/ Trước tiên phải nhắc nhở mình chú ý đến nhạc điệu của đoạn kết; nhạc điệu hay thường có âm hưởng của Giai Kết Hoàn Toàn. (Cadence Parfaite, hợp âm bậc V về Chủ âm)

2/ Nếu đoạn kết hay một cách đặc biệt, hay lắm, điểm 9 hoặc 10 (thang điểm từ 1 đến 10) tôi sẽ viết vài ba câu, có khi hẳn một đoạn, giải thích, bàn luận cái hay của nó.

3/ Nếu đoạn kết thật dở, điểm 1 hoặc 2, tôi cũng sẽ viết một số câu, hoặc một đoạn bàn về cái dở của nó.

4/ Nếu đoạn kết khá dở, trung bình hoặc khá hay (điểm từ 3 đến 8), tôi sẽ lờ đi. Nhưng khi nhận định chung cuộc về giá trị nghệ thuật của bài thơ tôi sẽ nhớ đến nó để điều chỉnh lời khen chê cho thích hợp.

Kết Luận

Không biết chiếu tướng thì sẽ chẳng ai thèm chơi cờ với bạn. Không biết đưa bóng vào lưới đối phương thì sớm muộn gì đội bóng sẽ bị giải tán. Không có Đoạn Kết ấn tượng thì bài thơ sẽ rất dễ đi vào quên lãng. Đó là chuyện của những người đánh cờ, đá bóng và làm thơ. Với cương vị của người phê bình tôi sẽ nhắc nhở mình (và các bạn trẻ) không được lơ là với đoạn kết của bài thơ.

Phạm Đức Nhì


phamnhibinhtho.blogspot.com