Thứ Bảy, 25 tháng 3, 2017

NHẬN DIỆN THƠ


                       NHẬN DIỆN THƠ

             (Trao đổi với Thái Hưng Nguyễn)

 Sau khi đọc bài “Thơ Con Cóc” Có Phải Là Thơ? trên trang Thơ Ca Nghệ Thuật Đương Đại, anh Thái Hưng Nguyễn (người phụ trách trang web trên) có đưa ra 3 “đoạn thơ”

1/ Đầm xưa.

Cóc nhảy vô.

Nước té vang.

 
2/ Ao cũ.

Chú cóc nhảy vào.

Tiếng nước xao.

                                                                             
3/ Đồi trọc.

Thoảng trong gió.

Tiếng cóc.

kèm 2 câu hỏi có vẻ như đánh đố:

1/ Đoạn nào có thể gọi là thơ và đoạn nào không phải là thơ?

2/ Những đoạn được gọi là thơ (nếu có) thì hay hay dở? Hay ở chỗ nào và dở ở chỗ nào?

 
Thật ra nếu vững về lý thuyết thơ thì trả lời 2 câu hỏi này không khó, nhưng để có thể thuyết phục người đọc chấp nhận câu trả lời một cách vui vẻ, thoải mái thì một số kiến thức căn bản về thơ cần phải được chuẩn bị và xác lập trước. Thành thử câu trả lời sẽ ngắn nhưng phần chuẩn bị lại hơi dài dòng. Mong anh Thái Hưng Nguyễn và bạn đọc thông cảm.

 

Dựa Vào Định Nghĩa Thơ

 
Ngày tôi còn mài đũng quần ở trung học, thơ được hiểu là một loại hình nghệ thuật dùng chữ, có vần điệu để biểu lộ một cảm xúc hoặc diễn đạt một ý tưởng cao đẹp (noble thought). Nhưng khoảng mấy thập niên sau này cái phần đuôi của định nghĩa thơ: hoặc diễn đạt một ý tưởng cao đẹp (noble thought), trong rất nhiều sách và trang web thơ ca, đã lặng lẽ biến mất. Những “bài thơ” được mang danh hiệu Thơ chỉ nhờ vào ý tưởng cao đẹp cũng tự động rời bỏ Vườn Thơ để đi đến những khu vườn khác.

Tuy vậy, hiện nay vẫn còn một số ít người tiếp tục tin vào và thực hành tôn chỉ “văn dĩ tải đạo” và cho rằng nên “dùng Thơ Ca để giáo huấn (dạy) con em, để chúng trở thành người chính trực, ôn nhu, rộng lượng, kiên nghị, cứng cỏi mà không thô bạo, giản dị mà không ngạo mạn.(1). Nếu độc giả đồng ý với cách nhìn ấy thì hãy ngừng ngay, không nên đọc tiếp bài viết này nữa, vì như thế sẽ tốn công, phí sức vô ích.

Theo tôi, mục đích chính của Văn là chuyển tải thông điệp. Cũng có khi có cảm xúc, nhưng nếu không có cũng không sao. Nhưng với Thơ thì cảm xúc là cốt yếu; nếu thiếu cảm xúc thì thơ sẽ không còn là thơ nữa mà thành thể loại khác.

Tôi đồng ý với Nguyễn Đình Thi khi ông viết “Làm thơ, ấy là dùng lời và những dấu hiệu thay cho lời nói -tức là chữ- để thể hiện một trạng thái tâm lý đang rung chuyển mạnh mẽ khác thường”… "thơ không nói bằng ý niệm thuần tuý, bởi nếu thế, thơ đã bị đánh đồng với đạo đức (luân lí), triết học... Con đường của thơ hướng tới việc "lay động những chiều sâu của tâm hồn, đem cảm xúc mà đi thẳng vào sự suy nghĩ.”  … (Mấy Ý Nghĩ Về Thơ)

Còn Nguyễn Hưng Quốc thì cho rằng “Thơ là cảm xúc (bằng kỹ thuật thơ) đi tìm một đồng cảm” (mấy chữ trong ngoặc đơn là của PĐN thêm vào để tránh hiểu lầm).  

Có hai đặc tính để nhận ra một “Bài Thơ” không phải là Thơ:

1/ Nó hoàn toàn là sản phẩm của lý trí.

hoặc là:

2/ Tác giả đã bước vào khung cảnh của “Bài Thơ” nhưng chưa có những câu Sinh Tình.

 
Sau đây là một số thí dụ trong các bài viết cũ của tôi, nay sắp xếp lại một cách đặc biệt để độc giả dễ tiếp nhận.

 
Là Sản Phẩm Của Lý Trí

 
1/

 Hình Vuông

 
Muốn tìm chu vi hình vuông

Lấy cạnh nhân bốn lệ thường nhớ ghi

Diện tích hình vuông khó gì

Lấy cạnh nhân cạnh sai đi đường nào

 
Môt ông thầy dạy toán nào đấy đã mượn thể thơ lục bát để diễn tả một công thức toán cho học trò dễ nhớ. Nội dung của 4 câu lục bát hoàn toàn là sản phẩm của lý trí, không có một chút cảm xúc nào. Đây không phải là thơ.

 
2/

Anh Yêu Khoảnh Đất Hình Vuông

 
Ôi! Khoảnh đất hình vuông

ở giữa là căn nhà nhỏ bé

vách đất, mái rạ

nơi anh đã gởi cả trái tim

vì trong căn nhà đó có em.

(PĐN chế để minh họa)

 
Ở đây tác giả đã bước vào, đã xuất hiện trong khung cảnh thơ, tâm đã đối cảnh. Và đã có cảm xúc. Hay dở chưa bàn đến, nhưng Anh Yêu Khoảnh Đất Hình Vuông đã có thể gọi là thơ.

3/

Công Cha Nghĩa Mẹ

 
Công cha như núi Thái Sơn

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

Một lòng thờ mẹ kính cha

Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con

(Ca dao)

 
Một nhà nho đã đem quan niệm về chữ hiếu của Khổng Tử dàn trải trong 4 câu lục bát để loan truyền trong dân gian. Đây chỉ là sản phẩm của lý trí, tâm chưa đối cảnh, không có cảm xúc, không thể gọi là thơ.

 

4/

Thôi xa rồi mẹ ới

lệ nhòa mi mắt

mong con phương trời

có lần chợt tỉnh đêm vơi

nghe giòn tiếng súng nhớ lời phân ly

mẹ ơi con mẹ tìm đi

bao giờ hết giặc con về mẹ vui.

(Nhà Tôi, Yên Thao)

 

Tác giả đã bước vào khung cảnh thơ, cảm xúc đã dạt dào. Đích thị là thơ.

 

5/

 Tháng Giêng Ăn Tết Ở Nhà

 Tháng giêng ăn tết ở nhà,
Tháng hai cờ bạc, tháng ba hội hè.
Tháng tư đong đậu nấu chè,
Ăn tết đoan ngọ trở về tháng năm.
Tháng sáu buôn nhãn bán trăm,
Tháng bảy hôm rằm, xá tội vong nhân.
Tháng tám chơi đèn kéo quân,
Trở về tháng chín chung chân buôn hồng.
Tháng mười buôn thóc, bán bông,
Tháng một tháng chạp nên công hoàn thành.

(Văn Hóa Việt, e-cadao.com)

Một nhà nghiên cứu Văn Hóa Việt đã nhờ vào khả năng quan sát sắc bén của mình nhận biết và kể lại những nét đặc thù trong sinh hoạt văn hoá của người Việt Nam từng tháng một trong năm. Tuy thể thơ lục bát được mượn làm phương tiện để chuyển tải thông điệp nhưng tác giả chỉ “đứng ngoài” chứ không cho tâm trạng, cảm xúc của mình trộn lẫn vào thông điệp. Ở đây chúng ta cũng chỉ có một loại văn vần chứ không có thơ

6/

Quan đòi thầy kiện

Bình bát nấu canh

Ăn hơi tanh tanh

Là rau dấp cá

Có mẹ không cha

Rau má mọc bờ

Thò tay sợ dơ

Đó là rau nhớt

Rau cay như ớt

Vốn thiệt rau răm

Sống suốt ngàn năm

Là rau vạn thọ

(Vè Nam Bộ)

Rõ ràng đây là một đoạn của bài vè. Mỗi câu 4 chữ, gieo vần liên tiếp. Tác giả (khuyết danh) dùng lối chơi chữ gọi tên các loại rau một cách trào phúng. Tuyệt nhiên không có cảm xúc.

 
Như ta đã biết, lời dạy của Đức Phật được ghi chép thành Kinh. Đệ tử của ngài, các tăng ni - dựa vào sự hiểu biết của mình – giải thích cho Phật Tử dễ hiểu bằng những đoạn văn vần ngắn. Đó là Kệ. Kinh hay Kệ, dù ý nghĩa thâm sâu cũng không phải là thơ.

 7/

Kinh Pháp Cú

 

Không làm các việc ác

Tu tập các hạnh lành

Giữ tâm ý thanh tịnh

Là lời chư Phật dạy

 

8/

Thị Đệ Tử

 

Thân như điện ảnh hữu hoàn vô

Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô

Nhậm vận thịnh suy vô bố úy

Thịnh suy như lộ thảo đầu phô.

(Sư Vạn Hạnh, thivien.net)

 

Dặn Học Trò

Thân như bóng chớp có rồi không

Cây cối xuân tươi thu não nùng

Mặc cuộc thịnh suy đừng sợ hãi

Kìa kìa ngọn cỏ giọt sương đông

(Ngô Tất Tố dịch)

Thiền sư Vạn Hạnh đã dùng hình thức thơ thất ngôn tứ tuyệt để lý giải lẽ Vô Thường. Tất cả những câu chữ ông viết ra đều đến từ bề mặt ý thức, là sản phẩm của lý trí. Ông truyền đạt cho mọi người một phần sự hiểu biết của ông về đạo Phật; đó là lẽ Vô Thường của vạn vật. Do không có tâm đối diện với cảnh sắc, lý chưa biến thành sự, bài Thị Đệ Tử chỉ là Kệ chứ chưa phải là Thơ.

 
9/

Hãy Tin Chúa

Hãy tin nơi Thiên Chúa

Hồn xác dâng cho ngài

Hãy sống theo lời Chúa

Chết, sẽ về nước Trời

Đây chỉ là lời kêu gọi mọi người Hãy Tin Chúa. Không có bóng dáng cảm xúc nên không thể gọi là thơ.

8/

Hãy Mua Thuốc Số 42

Ai khóc ngoài quan ải?

Ai chưa đánh đã chạy dài?

Thuốc này bôi một tý thôi

Là trèo lên ngựa vung roi cả ngày

Thuốc này, ôi thật là hay!

Thuốc này tên gọi là Xây Xập Zì (tiếng Hoa: 42)

 

Đây có vóc dáng là thơ nhưng chỉ là bài quảng cáo thuốc “chơi lâu” ở các tỉnh biên giới phía bắc. Nó là sản phẩm của óc thương mại, kinh doanh, không phải là những lời tâm tình, hàm chứa cảm xúc.

 

Có Cảnh Nhưng Chưa Có Tình

1/

“Thơ Con Cóc”

Con cóc trong hang

Con cóc nhảy ra

Con cóc nhảy ra

Con cóc ngồi đó

Con cóc ngồi đó

Con cóc nhảy đi

(Đã giải thích)

 

2/

Đồi trọc

Thoảng trong gió

Tiếng cóc

 
Cũng như “Thơ Con Cóc”, đây mới chỉ là những câu xác lập khung cảnh, mặc dù tâm đã đối cảnh nhưng chưa Sinh Tình, chưa phải là thơ.

 

Một Số “Bài Thơ” Bị Tước Mất Danh Hiệu Thơ.

 

1/

                 KIM LŨ Y

   Khuyến quân mạc tích Kim Lũ Y

   Khuyến quân tích thủ thiếu niên thì

   Hoa khai kham chiết trực tu chiết

   Mạc đãi vô hoa không chiết chi.

                  Đỗ Thu Nương
                          *

                ÁO KIM TUYẾN

   Khuyên anh đừng tiếc áo thêu vàng

   Khuyên anh nên tiếc thời trẻ trung

   Hoa nở bẻ được thì nên bẻ

   Đừng chờ hoa hết, bẻ cành không.

 

2

       LA CỐNG KHÚC

             Kỳ Tam

Mạc tác thương nhân phụ

Kim thoa đương bốc tiền

Triêu triêu giang khẩu vọng

Thác nhận kỷ nhân thuyền.

           Lưu Thái Xuân

             

       BÀI CA LA CỐNG

             (bài 3)

Chớ làm vợ những người lái buôn
Trâm vàng để trả thày bói (hỏi ngày chồng về).
Sáng nào cũng ra cửa sông trông ngóng,
Mà chỉ thấy nhầm toàn thuyền của người ta.

 

Hai tác giả sành đời đã đem kiến thức và kinh nghiệm của mình - bằng hình thức thơ - khuyên bảo lớp hậu sinh. Nội dung hai “bài thơ” trên toàn là những điều hay, lẽ phải nhưng tuyệt nhiên không có cảm xúc. Trước đây, vì quan niệm “văn dĩ tải đạo” ông cha ta đã long trọng gọi chúng là Thơ. Nay Thơ đã đi theo một hướng mới, đã có những định nghĩa mới gắn chặt nó với tâm tình, cảm xúc của con người nên, dựa vào cách nhìn nhận mới đó, chúng không còn xứng đáng với danh hiệu Thơ nữa.  

 

Trả Lời Thái Hưng Nguyễn

 

Như vậy, “đoạn thơ” thứ 3 do anh Thái Hưng Nguyễn gởi đến

1/

Đồi trọc

Thoảng trong gió

Tiếng cóc

đã được trả lời và xếp loại như ở trên. Rất dễ dàng và đơn giản. Nó, dù đã xác lập được khung cảnh của “bài thơ”, vẫn không phải là Thơ vì chưa có câu Sinh Tình.

 

2/

Đầm xưa.

Cóc nhảy vô.

Nước té vang

Nêú không có chữ “xưa” thì đoạn này cũng không phải là thơ vì chưa có câu Sinh Tình. Đưa chữ “xưa” vào đoạn thơ tác giả đã làm thay đổi hẳn cục diện.

Cóc: nói chung chung, không có mạo từ nên có thể là số ít và cũng có thể là số nhiều.

Tứ thơ: nhìn cóc nhảy vô “cái đầm (ngày) xưa”, nước bắn (lên) vang những âm thanh quen thuộc, gợi lại biết bao nhiêu kỷ niệm.

Nhờ chữ “xưa” nên vừa bước vào khung cảnh của “đoạn thơ”, mặc dù chưa có những câu Sinh Tình, tình đã tự động phát sinh, cảm xúc “bắn tung tóe”.

Đoạn này đã đủ điều kiện để mang danh hiệu Thơ.

Chữ “vang” không hợp với tiếng nước bắn lên (kim loại thì hợp hơn); câu “Nước té vang” vừa vụng về, vừa ngô nghê, và dĩ nhiên, rất dở.

 3/

Ao cũ.

Chú Cóc nhảy vào.

Tiếng nước xao..

Tứ thơ: nhìn Chú Cóc nhảy vào “cái ao cũ”, tiếng nước làm xao động biết bao tâm tình từ những kỷ niệm của những tháng năm xưa.

Đoạn này đã đủ điều kiện mang danh hiệu Thơ. Thêm nữa, nó còn hay hơn đoạn trên nhờ chữ “xao” vừa hợp, vừa thanh lại rất gợi.

 
Đoạn này có thể có một cách hiểu khác.

Chú Cóc nhảy vào: xác định cóc chỉ có một con.

Tứ thơ: Chú Cóc nhảy vào ao cũ, nghe tiếng nước xao nhớ lại biết bao kỷ niệm ngày xưa, lòng (Chú Cóc) xốn xang, rung động. (Trường hợp này có phép ẩn dụ - ý, tứ khác nhau)

Ý: nhìn Chú Cóc nhảy vào “ao cũ” làm nước xao động, tác giả chợt nhận ra tâm trạng của mình cũng giống Chú Cóc - bao kỷ niệm hiện về, tâm hồn bâng khuâng, xao xuyến.

Có phép ẩn dụ, đoạn thơ sang hẳn lên, và vì thế, hay hơn nhiều.

Tuy nhiên, nếu hiểu theo cách này sẽ khó trả lời được câu hỏi “Làm sao biết, đối với Chú Cóc, cái ao mà Chú nhảy vào là ao cũ?”

 
Đoạn Thơ Mới

Khi bài viết này còn chưa xong, anh Thái Hưng Nguyễn, cũng vẫn câu hỏi cũ, đã đưa ra một “đoạn thơ” mới:

Đầm hoang

Con Cóc nhảy vô

Nước té vang.

Rõ ràng đoạn này mới chỉ là những câu cảnh, chưa có câu Sinh Tình, nên chưa phải là Thơ.

Kết Luận

Theo tôi, đây là cuộc tranh luận bổ ích. Nhờ cuộc tranh luận về “Thơ Con Cóc” này tôi đã có cơ hội nhắc đến hai định nghĩa Thơ mà tôi cho là phù hợp với cách nhìn nhận Thơ Ca hiện nay. Dĩ nhiên lập luận của tôi trong bài viết chưa phải là kết luận chung cuộc. Sẵn sàng đón nhận ý kiến, phê bình khác của bạn đọc.

Phạm Đức Nhì

nhidphạm@gmail.com

phamnhibinhtho.blogspot.com

 

CHÚ THÍCH:

1/ Kim Kũ Y: Thơ Xưa Mà Vẫn Mới. Nguyễn Khôi, newvietart.com         

 

 

 

 

 

 

Thứ Bảy, 18 tháng 3, 2017

THƠ CON CÓC CÓ PHẢI LÀ THƠ


THƠ CON CÓC CÓ PHẢI LÀ THƠ?

 

Trong bài Nhân Cuộc Tranh Luận Về Thơ Con Cóc, Thụy Khê đã viết:

Khi Nguyễn Hưng Quốc thách Đỗ Minh Tuấn phải chứng minh được rằng Thơ Con Cóc không phải là thơ, Đỗ Minh Tuấn đã vội lo "đây là một thách thức triết học nghiêm túc, nhưng lại là một vấn đề ngụy tạo". Những lo lắng của Đỗ Minh Tuấn thật sự không cần thiết vì ở đây cũng chẳng có vấn đề triết lý triết học gì cả. Chỉ có một lẽ dễ hiểu là xưa nay chưa ai định nghĩa được một cách chính xác Thơ là gì? …

Và bà đưa ra kết luận nước đôi:

 Vậy Thơ con cóc, bảo nó là thơ cũng được. Mà bảo không phải là thơ cũng xong. (1)

Tôi tự mình chưa nghĩ ra được một định nghĩa cho thơ, nhưng nếu hỏi

“Thơ Con Cóc có phải là thơ hay không?

thì tôi hy vọng có thể trả lời được. Ít nhất là sẽ cố thử xem.

 

Những Câu Thơ Dọn Cảnh

Từ trước cả cái thời có giai thoại “Thơ Con Cóc” các cụ của chúng ta làm thơ thường theo trình tự Tức Cảnh – Sinh Tình. Cảnh là cái cớ; cốt tủy của Thơ nằm ờ chữ Tình. Vì thế, bài thơ thường mở đầu bằng những câu dọn cảnh, qua đó tác giả phác họa khung cảnh của bài thơ. Tôi gọi tắt là những câu Cảnh.

Cảnh có thể là một người, vật, cảnh vật, sự việc hay ý tưởng xuất hiện trước mắt hay trong đầu của tác giả; tác giả tạo ra những câu Cảnh, xem đó là cái nguyên cớ, cái gợi ý để Tức Cảnh Sinh Tình, nghĩa là dựa vào Cảnh viết thêm những câu thơ khác biểu lộ tâm sự, cảm xúc của mình.

-         Thí dụ hai câu đầu trong bài Chân Quê của Nguyễn Bính:

Hôm qua em đi tỉnh về

Đợi em ở mãi con đê đầu làng

Ở đây tác giả đã tạo ra và bước vào khung cảnh của bài thơ, đã đứng ở con đê đầu làng để chờ người yêu về (tâm đối cảnh). Chúng đã có điều kiện cần (nhưng chưa đủ) để gọi là thơ. Bởi chúng mới chỉ là những câu Cảnh; phải chờ tác giả Sinh Tình – nghĩa là dựa vào Cảnh để viết tiếp những câu chứa đựng cái Tình, cái tâm sự của mình.

Khăn nhung quần lĩnh rộn ràng

Áo cài khuy bấm, em làm khổ tôi.

Đến đây, Tình đã phát sinh, cảm xúc của tác giả đã xuất hiện. Hai câu cảnh, đứng riêng lẻ thì chưa thể gọi là thơ. Chỉ đến khi tác giả đã hoàn tất hai câu Sinh Tình thì hai câu cảnh mới tự động trở thành thơ và tất cả đã hợp cùng với những đoạn sau để trở thành một bài thơ nổi tiếng của Nguyễn Bính.

 

-         Hai câu đầu của bài Bạc Tần Hoài (Đỗ Phủ):

               Yên lung hàn thủy nguyệt lung sa

               Dạ bạc Tần Hoài cận tửu gia

               Khói trùm nước lạnh, trăng lồng cát

               Thuyền đậu Tần Hoài, cạnh tửu gia

Tác giả đã có mặt tại bến Tần Hoài để ngắm cảnh khói trùm nước lạnh, trăng lồng cát; ở đây tâm đã đối cảnh. Nhưng 2 câu này vẫn chưa thể gọi là thơ vì chưa có bóng dáng của cảm xúc. Phải chờ 2 câu sau:

               Thương nữ bất tri vong quốc hận

               Cách giang do xướng Hậu Đình Hoa

               Cô gái không hay buồn mất nước

               Bên sông còn hát Hậu Đình Hoa (2)

                      (Trần Trọng San dịch)

thì mới thấy bóng dáng của chữ Tình; đó là nỗi buồn xé ruột của một sĩ phu yêu nước. Hai câu đầu - đóng vai những câu thơ dọn cảnh - cũng được ăn ké theo thành 2 câu thơ cuả một thi phẩm tuyệt tác.

 

Trường Hợp Bài “Thơ Con Cóc”

Chàng Ngốc thứ nhất xuất khẩu:

        Con cóc trong hang

        Con cóc nhảy ra

Đây là 2 câu mào đầu, dọn cảnh. Trường hợp này tâm đã đối cảnh; chính mắt chàng Ngốc đã thấy con cóc nhảy ra; tác giả đã có mặt trong khung cảnh của “bài thơ”. Hai câu này đã có điều kiện cần (nhưng chưa đủ) để được gọi là thơ. Nếu lúc này tác giả đọc thêm vài câu nữa (Sinh Tình) thì sẽ thành bài thơ. Nhưng cái cảm xúc đang óc ách trong lòng chưa kịp biểu lộ thì đã … hết lượt (hết thời gian dành cho mình, đến lượt người khác).

Nếu Chàng Ngốc Thứ Hai dùng 2 câu của Chàng Ngốc Thứ Nhất làm phần mào đầu, gợi ý rồi đọc mấy câu Sinh Tình của mình thì đã không bị gọi là Chàng Ngốc và đã không có giai thoại ‘Thơ Con Cóc”. Đàng này thấy con cóc vẫn cứ ngồi đó (chắc hơi lâu) nên chàng đã đọc 2 câu mào đầu của chính mình:

         Con cóc nhảy ra

         Con cóc ngồi đó

Thế là hết giờ, đến lượt người khác. Do đó cái tâm sự không thoát ra được, đành phải để âm ỉ trong lòng. Đến đây chúng ta cũng vẫn chưa có Thơ.

Chàng Ngốc Thứ Ba tiếp tục mắc lỗi lầm của Chàng Ngốc Thứ Hai nên cũng chỉ được thêm 2 câu thì hết giờ:

         Con cóc ngồi đó

         Con cóc nhảy đi.

Cả 6 câu của 3 Chàng Ngốc hợp lại, tuy dài hơn, có thứ tự lớp lang như một câu chuyện, cũng chỉ là cái phần mào đầu, dọn cảnh (Cảnh), chưa có ai Tức Cảnh Sinh Tình nên vẫn chưa có Thơ.

Giá như một trong ba chàng Ngốc (ai cũng được) làm thêm đoạn dưới đây:

         Nhìn con cóc nhảy

         tôi nhớ những ngày xưa

         thơ dại

         tôi cùng cô bé bên nhà

         sau cơn mưa

         cầm giỏ đi bắt cóc nhái

         chơi mở quán bán hàng

       (PĐN chế ra để minh họa)

thì đã có chút cảm xúc, thương nhớ, vấn vương một kỷ niệm thời nhỏ dại. Và chúng ta đã có Thơ (hay dở lại là chuyện khác).

Như vậy, “Thơ Con Cóc”, tuy đã vượt lên trên các loại ca dao, vè, kệ, văn vần … , là “những câu thơ dọn cảnh” đã qua được cửa ải “tâm đối cảnh”, nhưng vì không có những câu Sinh Tình để bám vào ăn theo nên cũng chỉ mới có điều kiện cần, chưa đủ để được gọi là Thơ.

Nếu cách giải thích này may mắn được độc giả chấp nhận thì “Thơ Con Cóc” không phải là thơ. Những ai cho “Thơ Con Cóc” là một bài thơ hay, hoặc dở (3) không những chỉ … trật lất mà còn … trật lất đến hai lần.

Phạm Đức Nhì

nhidpham@gmail.com

Chú thích:

1/ thuykhe.free.fr/tk97/concoct.html

2/ hoasontrang.us/tangpoems/duongthi.php?loi=42

3/ “Thơ Con Cóc” là trường hợp quá đặc biệt, nằm trong cái ngách hẹp giữa ranh giới của thơ và những thứ không phải thơ, nên có dạo trong bài Thầy Trò Tam Tạng Và Thơ tôi đã lầm lẫn gọi nó là thơ; và là thơ dở vì không có cảm xúc. Tôi viết bài này gọn hơn, chi tiết hơn, đi xa hơn để làm rõ điểm lầm lẫn của mình.

 

 

 

Thứ Năm, 9 tháng 3, 2017

TA XA HÀ NỘI: NỖI BUỒN TÊ TÁI CỦA MỘT NGƯỜI HÀ NỘI


                                          TA XA HÀ NỘI

              NỖI BUỒN TÊ TÁI CỦA MỘT NGƯỜI HÀ NỘI

 

Ngày nghỉ lễ
thôi, ta xa Hà Nội
về Nhà Quê nghỉ dưỡng thỏa tâm hồn
xa để "thoát" lấn chen, xô đẩy
tìm nơi "buồn" yên tĩnh, dịụ dàng hơn...


Ô
i Hà Nội,
đi xa cho bớt "sợ"
đường cây xanh bị "đốn" nắng vỡ đầu
xe ùn tắc, kinh bọn len cướp giật
"Người Tràng An thanh lịch" ở đâu đâu?


Ôi Hà Nội,
phố phường xây chắp vá ,
cầu Long Biên để "rỉ" đến bao giờ?
đường gốm sứ bụi bám hoen mưa nắng

gái quần đùi đến bẹn phóng xe đua...


Ôi Hà Nội,
còn mấy Nàng thỏ thẻ?
mở miệng  ra là "đ. mẹ" chửi thề
dân tứ xứ vào Kiếm Tiền, chụp giựt...
còn góc nào thanh thản
uống Cafe'?


Ôi Hà Nội,
có điều gì không ổn?
như trên mây
trên gió "cấp điều hành"?
mong sớm có một Tràng An thanh lịch
để ta về
soi bóng xuống Hồ Gươm.

            -----
Viết tại Gia Lộc- Hải Dương 28-4-2015
        NGUYỄN KHÔI
       (Nhà văn Hà Nội)

Tứ Thơ: Do không có ẩn dụ nên tứ cũng là ý – tác giả hễ có cơ hội là muốn xa Hà Nội để khỏi phải thấy, phải nghe những điều tệ hại của Thủ Đô, và ông thốt ra một điều ước mà có lẽ ngay lúc đó cũng nhận ra là mơ ước viển vông.

 Cấu Trúc

Bài thơ gồm 5 đoạn, ngoại trừ đoạn kết, mỗi đoạn nói về một (hoặc vài) điều tệ hại của đất ngàn năm văn vật.

 
1/

Ngày nghỉ lễ
thôi, ta xa Hà Nội
về Nhà Quê nghỉ dưỡng thỏa tâm hồn
xa để "thoát" lấn chen, xô đẩy
tìm nơi "buồn" yên tĩnh, dịụ dàng hơn...

 Xa Hà Nội để “thoát” lấn chen, xô đẩy

 2/

Ôi Hà Nội,
đi xa cho bớt "sợ"
đường cây xanh bị "đốn" nắng vỡ đầu
xe ùn tắc, kinh bọn len cướp giật
"Người Tràng An thanh lịch" ở đâu đâu?

 Xa Hà Nội để tránh xe ùn tắc, cướp giật và nắng vỡ đầu vì cây xanh bị đốn

 3/

Ôi Hà Nội,
phố phường xây chắp vá ,
cầu Long Biên để "rỉ" đến bao giờ ?
đường gốm sứ bụi bám hoe
n mưa nắng

gái quần đùi đến bẹn phóng xe đua...

Xa Hà Nội để khỏi phải nhìn cầu cống rỉ sét, đường xá, phố phường xây chắp vá, gái tân thời nhố nhăng.

 4/

Ôi Hà Nội,
còn mấy Nàng thỏ thẻ?
mở miệng  ra là "đ. mẹ" chửi thề
dân tứ xứ vào Kiếm Tiền, chụp giựt...
còn góc nào thanh thản
uống Cafe'?

Xa Hà Nội để khỏi phải nghe ngôn ngữ lưu manh, chửi thề tục tĩu của dân tứ xứ

 5/

Ôi Hà Nội,
có điều gì không ổn ?
như trên mây
trên gió "cấp điều hành "?
mong, sớm có một Tràng An thanh lịch
để ta về
soi bóng xuống Hồ Gươm.

Buồn bã thốt ra một lời ước nhưng - với con người ngày càng trở nên vô cảm, với cách lèo lái đất nước vô trách nhiệm, với xã hội nhiễu nhương, thối nát- lời ước ấy cũng chỉ thoảng bay theo gió.

 

Ưu Điểm
Trước hết, Nguyễn Khôi là nhà thơ lão thành, sự nhuần nhuyễn trong kỹ thuật thi ca đã thể hiện rõ nét trong bài thơ. Chữ nghĩa bình thường nhưng vẫn sang trọng và gợi cảm.

Ông chọn lối gieo vần gián cách (1/3, 2/4), nhưng tìm cách “lách” vần 1/3 mà chỉ gieo vần 2/4 (hồn hơn. đầu đâu, giờ đua, thề phê, hành gươm) cho nên cả đoạn 4 câu chỉ có một lần gieo vần. Do đó hội chứng nhàm chán vần đã giảm ít nhất 95%, món chè Tôi Xa Hà Nội chỉ còn hơi ngọt một chút nhưng không đáng kể. Cảm xúc ở tầng một, do thành công của việc sử dụng chữ nghĩa, đã dâng lên rất cao.

 
Những “tệ hại” của Hà Nội được nhắc đến tùy hứng, tiện đâu nói đó, không theo một trình tự nhất định. Cách diễn đạt này tuy không được ngăn nắp, lớp lang (sản phẩm của lý trí) nhưng chính nhờ thế tứ thơ chuyển động tự nhiên, không gò bó, gượng ép, và người đọc – không có gì ngần ngại - cảm nhận rất dễ dàng.

 
Tứ thơ hay, tâm tình chân thật, nỗi buồn tưởng đâu chỉ của riêng người Hà Nội, đã lan tỏa đến người Việt yêu quê hương ở mọi miền đất nước và cả ở hải ngoại. Rồi còn cộng thêm lời ước vu vơ rất khéo của nhà thơ khiến nỗi buồn truyền đến người đọc càng da diết, sâu lắng.

Khuyết Điểm:

1/ Trong câu “để ta về soi bóng xuống Hồ Gươm” cụm từ “soi bóng xuống Hồ Gươm” làm câu thơ hơi sượng.

2/ Thể thơ

Đây là thể thơ mới trường thiên (từng đoạn 4 câu). Tứ thơ được chia thành nhiều “tứ nhỏ”, ý nhỏ. Mỗi ý nhỏ được diễn tả, gói ghém trong một đoạn 4 câu. Cái tiện lợi của thể thơ này là thi sĩ có thể thích ý nào, đoạn nào thì viết ngay ý đó, đoạn đó; sau cùng, nếu muốn, có thể thay đổi vị trí của các đoạn để có một bài thơ suôn sẻ, mạch lạc. Thể thơ này có 3 khuyết điểm chính:

          a/ Hội chứng nhàm chán vần: Đây là khuyết điểm chung của thơ mới; dù nhất khí, liền mạch hay phân mảnh, đứt đoan, nếu thi sĩ không khéo, và bài thơ hơi dài một tý, đọc lên sẽ ầu ơ, gây cảm giác … chán ngán.

          b/ Tứ thơ phân tán: Chọn thể thơ này thi sĩ bắt buộc phải chia cắt tứ thơ chính và giải quyết từng phân mảnh một. Sẽ không có sợi chỉ xuyên suốt để nối các ý nhỏ với nhau. Bài thơ sẽ như một ngôi nhà tiền chế được xe kéo từng phần đến khu đất rồi lắp ghép lại. Sẽ không có dòng sông thơ mà chỉ có những vũng thơ, những ao thơ nằm cạnh nhau.

          c/ Cảm xúc, hồn thơ không được tự do tăng tiến: Cứ hết một đoạn 4 câu lại ngừng để nhảy qua một ý khác nên có gom nhặt được tý cảm xúc nào ở ý này thi khi tạm quên nó để nhảy qua ý khác, nó cũng nhạt, cũng nguội hẳn đi. 

 

Như đã nói ở trên, đoàn quân chữ nghĩa trong Ta Xa Hà Nội được chia làm 5 đơn vị nhỏ, Đơn vị nào cũng tinh nhuệ nhưng không biết hợp đồng tác chiến vì không có sự chỉ huy thống nhất. Nói thế để thấy thế trận chữ nghĩa của bài thơ lỏng lẻo, tứ thơ phân tán, đoạn nào lo phần vụ của đoạn ấy nên cảm xúc ở tầng 2 không đáng kể.

 

NK đã kín đáo bày tỏ sự buồn giận, thất vọng đối với thành đô ngàn năm văn vật bằng những dẫn chứng điển hình, chính xác, mang cả tính thời sự. Nhưng tại sao ông không đẩy nỗi buồn giận, thất vọng rất chính đáng của mình đi xa hơn nữa, mạnh hơn nữa để tăng giá trị nghệ thuật của bài thơ?

Có lẽ một phần do tuổi tác cao làm cho người ta điềm đạm, chừng mực hơn, không “máu” như đám trẻ, “đã chơi thì chơi tới bến”. Nhưng phần khác do thể thơ không liền mạch, nhất khí nên không có liên tục sóng sau dồn sóng trước để đến cuối bài cảm xúc sẽ như dòng thác đổ ập xuống hồn người đọc. Vì thế cảm xúc ở tầng 3 (hồn thơ) không có.

 

Một nhà “tình dục học” khi viết về những bí quyết để hâm nóng tình yêu, gìn giữ hạnh phúc gia đình đã có lời khuyên:

 “Nếu hai người có ý định ‘tò tí’ thì - không phải chờ lúc lên giường mà ngay khi bước vào phòng ngủ – hãy chốt cửa, rút phích khỏi ổ cắm điện thoại bàn và vứt điện thoại tay vào thùng rác.”

Tôi hiểu là nhờ thế sẽ không có tiếng chuông điện thoại làm gián đoạn tiến trình “cùng trèo lên đỉnh Vu Sơn” của hai kẻ yêu nhau. Thi sĩ, nếu đã có tay nghề vững vàng lại biết áp dụng lời khuyên ấy – không phải trên giường ngủ mà trên trang thơ của mình – thì rất dễ sáng tác được những bài thơ “tới bến”.

 

Kết Luận

 

Với tôi, Ta Xa Hà Nội là một bài thơ hay. Như rất nhiều bài thơ cùng loại khác của Nguyễn Khôi, ngôn ngữ sang trọng mà bình dị nên dễ hiểu, dễ cảm, đề tài không cao xa, viển vông mà rất gần gũi, có khi hiển hiện ngay trước mắt mọi người. Tôi không cảm thấy ngạc nhiên khi biết rằng thơ ông được rất nhiều người đọc, từ trí thức thị thành cho đến giới “bình dân học vụ” ở nông thôn.

Tôi rất có cảm tình với nhà thơ lão thành Nguyễn Khôi. Tôi đọc thơ ông khá nhiều từ Văn Đàn Việt và Văn Nghệ Quảng Trị. Một khả năng sử dụng chữ nghĩa điêu luyện như thế, một hồn thơ nhạy cảm, tươi mát, thấm đẫm tình người như thế, nếu tạo được thể thơ nhất khí, liền mạch, tôi tin rằng chúng ta sẽ được đọc những vần thơ còn hay hơn nữa.

 

Phạm Đức Nhì


phamnhibinhtho.blogspot.com