Thứ Sáu, 7 tháng 2, 2020

CÓ ĐÚNG LÀ "VĂN CHƯƠNG CÀNG HAY CÀNG XA SỰ THẬT"?







                           


Lời Nói Đầu
                      
Trong thời gian tra cứu để viết lời bình cho bài thơ Tan Vỡ của nhà thơ Dư Thị Hoàn tôi đọc được bài viết “Dư Thị Hoàn: Từng Có 'Tan Vỡ' Gây Chấn Động, Xuất Hiện Sau 10 Năm Đi Tu.” (1)

Trong bài viết có đoạn:

Ba năm trước, Dư Thị Hoàn tổ chức lễ “rửa tay chậu vàng”, có nhiều bạn bè văn chương chứng kiến, tuyên bố không viết, không tham gia văn đàn.
Trong một cuộc phỏng vấn, nhà thơ chia sẻ, thực ra quyết định “bẻ bút” có từ trước đó, khi bà đọc được câu “Văn chương càng hay càng xa sự thật”.

Vì là người làm thơ và bình thơ nên trong bài viết này tôi sẽ chỉ đề cập đến khía cạnh thơ của câu nói trên. Các thể loại văn học khác xin mời những cao nhân có kiến thức và kỹ năng thích hợp lên tiếng.


Thi Sĩ Có Xạo Không?

Câu trả lời là CÓ. Tuyệt đại đa số đều xạo. Có nhiều kiểu xạo, nhiều lý do để xạo.  

Sau đây là một số kiểu xạo trong thơ:

Dối Trá Đời Thường

 1/ Xạo vì hèn, vì “teo chim” - tham sống sợ chết, thích yên thân, sợ tù đày, sợ bị trù dập - sản sinh những câu thơ Nịnh.

 2/ Xạo vì tham lợi, tham danh - viết sai sự thật vì danh vọng, vì bả vinh hoa phú quý.

Đây là 2 kiểu xạo tệ nhất, làm đục, làm bẩn “dòng sông thơ ca”.

3/ Xạo vì tình riêng – thơ về cha mẹ, vợ chồng, họ hàng, bạn bè thân thuộc…

4/ Xạo vì xã giao - thơ đám ma, đám cưới, mừng sinh nhật, đỗ đạt, thăng quan tiến chức

Đây là 2 kiểu xạo mà người đọc dễ “thông cảm” cho qua, nhưng thơ thường được đánh giá thấp.

 5/ Xạo vì lập trường, quan điểm, đứng về một phía của một vấn đề hai mặt, chỉ nói một nửa sự thật.

“Ôi! Đẹp quá phe mình, còn phe bên kia
Phải chọn góc nhìn để chỉ thấy toàn điều xấu.” (2)

Thơ loại này đây đó cũng có bài hay nếu tác giả vững tay nghề và cao hứng.


    
Xạo Nghệ Thuật

 1/ Lối nói thậm xưng

Khác với dối trá đời thường (trong thơ), lối nói thậm xưng là một kiểu “xạo” đầy tính nghệ thuật. Tác giả cũng “phịa” ra những điều không thật nhưng với mục đích “để tạo sự đột phá, thay đổi cái trật tự đời thường bằng cái phi lý mà có lý trong nghệ thuật” 

Thí dụ:

Trong bài thơ Muốn Gởi Cho Em của thi sĩ Phạm Hữu T (tặng Phượng Kim Ngọc Huỳnh) thì câu:

Muốn gởi cho em
chút gió biển Galveston

là một câu “xạo tới bến” vì gió từ biển Galveston (ở Mỹ) làm sao gởi về Việt Nam được? Nhưng phần sau của đoạn thơ lại là những cái “có lý trong nghệ thuật”.

Gió từ Mỹ gởi về:

để dịu bớt cái nắng Sài Gòn gay gắt.

Có lý quá đi chứ! Và hai câu kế tiếp:

nhưng sợ người ta đang đi mà chợt mát
rồi bồi hồi
nhớ nhớ thương thương.

vừa trữ tình lãng mạn - khi mượn ý của Nguyên Sa trong Áo Lụa Hà Đông -  lại vừa khôi hài ý nhị. Đoạn thơ thật tuyệt vời. (3)

(Xin mở ngoặc nói thêm: Bài thơ là của Phạm Hữu T với cái tựa Muốn Gởi Cho Em; thí dụ trên được trích trong bài bình thơ Mối Tình Xuyên Lục Địa của tôi (PĐN)

Đây là kiểu xạo nghệ thuật, “xạo dễ thương”, nâng cao giá trị của bài thơ.


2/ Xạo vì “xê dịch kịch bản”

Muốn thơ hay, tâm trạng phải thật, cảm xúc phải thật. Đó là điều cốt yếu. Trường hợp kịch bản cũng hoàn toàn thật nữa thì quá tốt. Nếu kỹ thuật thơ của thi sĩ nhuần nhuyễn, bài thơ sẽ dễ có nhiều cảm xúc, và nếu hội đủ một vài điều kiện khác nữa, hồn thơ có cơ hội xuất hiện. Nhưng không phải lúc nào kịch bản của bài thơ cũng “vừa khít” với tâm trạng. Đôi khi thi sĩ phải xê dịch, điều chỉnh chút ít để có sự ăn khớp cần thiết.

Thử đọc đoạn cuối của bài Giấc Mơ Anh Lái Đò của Nguyễn Bính:

Đồn rằng đám cưới cô to
Nhà giai thuê chín chiếc đò đón dâu
Nhà gái ăn chín nghìn cau
Tiền cheo, tiền cưới chừng đâu chín nghìn
Lang thang tôi dạm bán thuyền
Có người giả chín quan tiền, lại thôi.

Tôi không tin là trong thực tế, con số chín hoàn toàn phù hợp với số lượng những “thứ” mà ông nói đến trong bài thơ. Đúng là ông “phịa”; nhưng ông “phịa” khéo quá, “cao tay ấn” quá, nên người đọc, theo dòng cảm xúc của mình, đâu cần biết có đúng là chín chiếc đò đón dâu, có đúng là chín nghìn cau hay chín nghìn tiền cheo, tiền cưới hay không, mà chỉ thấy cái khoảng cách giàu nghèo giữa anh lái đò và tình địch hiện ra một cách rõ ràng và cay đắng, để rồi cái cảm giác bàng hoàng đau đớn về mối tình vô vọng của anh lái đò đã như một dòng thác đổ xuống, tràn ngập tâm hồn. (4)

Ở đây thủ pháp “gợi, không kể” được phối hợp với phép điệp ngữ (chín) một cách tài tình đã dẫn đến 2 câu kết tuyệt vời.

Tuy nhiên, nếu kịch bản xê dịch quá nhiều thì cả bài thơ sẽ bị đánh giá là xạo, không những mất hẳn giá trị nghệ thuật mà tác giả còn bị chê bai, coi thường.

Mời đọc Một Kịch Bản Thơ Xạo theo link dưới đây.  



Xạo Vì Có Sự Can Thiệp Của Vô Thức


Để có thể hội nhập và thích ứng với cuộc sống hàng ngày của cộng đồng, mỗi con người đương đại phải tuân thủ rất nhiều nguyên tắc giao tiếp, ứng xử trong xã hội. Xã hội càng văn minh số lượng nguyên tắc càng nhiều. Sau khi vào đời một thời gian (dài ngắn tùy hoàn cảnh riêng) trong mỗi thân xác con người có hai cái tôi cùng chung sống nhưng luôn đấu đá lẫn nhau để đòi quyền làm chủ thân xác đó: cái tôi đích thực và cái tôi hội nhập với cuộc đời – tôi tạm gọi là cái tôi văn hóa.

Tuổi đời càng cao cái tôi văn hóa càng mạnh, càng rõ nét và cái tôi đích thực càng yếu kém, mờ nhạt. Đến một lúc nào đó cái tôi văn hóa sẽ “đè bẹp” cái tôi đích thực để độc quyền chiếm hữu cái thân xác kia.

Lúc ấy, nói như Jean Paul Sartre (5) thì con người là một “kẻ vong thân” (đánh mất chính mình). Còn nói như Albert Camus (6) thì con người đích thực đã bất lực – để một “kẻ xa lạ” đến chiếm hữu thân xác mình. (6)

Những trải nghiệm, suy nghĩ, toan tính, dự định, ước mơ … của ta sau một thời gian xuất hiện trên bề mặt ý thức, đều tự động đi vào kho chứa - một cỗ máy vi tính khổng lồ nằm sâu kín trong tâm hồn ta từ “muôn kiếp trước” (Tây Phương hiểu “muôn kiếp trước” theo nghĩa bóng, nghĩa là từ lúc đứa bé có khả năng tiếp nhận thông tin từ xã hội để từng bước hình thành cái nhìn của mình về cuộc đời; hiểu “muôn kiếp trước” theo nghĩa đen là cách hiểu của đạo Phật). Cỗ máy tính khổng lồ đó chính là vô thức.

Nó không chỉ đơn thuần là một kho chứa mà còn làm công việc tổng hợp và chuyển hóa (process) những dữ kiện đó (trải nghiệm, suy nghĩ, toan tính, dự định, ước mơ …) thành một quan niệm, cách nhìn nhận, đánh giá con người, cuộc đời, kể cả những thành kiến, định kiến về truyền thống, đạo đức, niềm tin tôn giáo.

Mỗi khi đối diện với cảnh đời hiện tại, hồi tưởng về quá khứ hay thả hồn về hướng tương lai, và nếu cảm xúc của ta chưa trào dâng khiến ta ngây ngất đến mức lạc thần trí, thì vô thức sẽ thông qua lý trí, tác động vào tâm hồn ta, định hướng để tâm trạng của ta phù hợp với quan niệm, cách nhìn nhận của vô thức lúc ấy.

Có những bài thơ dù đọc kỹ cách mấy cũng không thể tìm ra dấu vết của sự dối trá. Tứ thơ dễ bắt, cảm xúc dạt dào. Có điều chỉ không có tín hiệu nổi điên đến mức lạc thần trí của thi sĩ, nghĩa là vẫn có bóng dáng của lý trí.

Khi bài thơ còn sự hiện diện của lý trí, vô thức sẽ có cơ hội can thiệp. Nó sẽ dùng lý trí làm cây cầu nối tác động vào tâm tình hoặc thái độ của thi sĩ. Lời thơ sẽ có chỗ này, chỗ kia bị “điều chỉnh” (mà thi sĩ hoàn toàn không biết) và sẽ không còn là tiếng nói chân thật của con tim.

Siêu Thực Trong Sứ Mệnh Giải Trừ Lý Trí

Theo Thụy Khuê thì Siêu Thực đi từ triết học phân tâm của Freud, coi vô thức như chủ thể của sáng tạo. Siêu Thực là hiện thân của mộng, đề cao vai trò của mộng.

Freud chia hoạt động tâm thần làm ba khu vực:

Vùng vô thức tức là cái đó (le ça trong tiếng Pháp, Es tiếng Đức) chứa đựng toàn bộ những nhu cầu bản năng bị dồn nén, cấm kỵ không được phát lộ ra ngoài.

Vùng ý thức tức cái tôi (le moi, ego), hay ý thức xã hội, cái tôi xã hội, chứa đụng những gì đã được thanh lọc bởi lý trí và đạo đức xã hội, sẵn sàng trình làng.

Và cái siêu ngã (le sur moi) có trách nhiệm kiểm duyệt.

Theo Freud, cái vô thức mới là bộ mặt thật, là cái tôi đích thực của con người. Nó chi phối mọi hoạt động. Còn cái tôi ý thức chỉ là bộ mặt bề ngoài, giả dối và ngụy tạo.

Mơ, đối với Freud, là thực hiện những khát vọng bản năng bị dồn nén. Khi ngủ, cơ quan kiểm duyệt không làm việc, do đó chỉ trong mơ người ta mới thể hiện được những ham muốn bị dồn ép cấm kỵ lúc tỉnh.

Đề cao vai trò của Mộng trong thơ sẽ loại bỏ gông cùm của lý trí, sự phân tích logic, nguyên tắc đạo đức, niềm tin tôn giáo. (7)

Đưa Mộng Vào Thơ Thơ Sẽ Thành Lời Chân Thật?

Về lý thuyết thì đúng.

Những hình ảnh, cảnh tượng, sự việc xảy ra trong giấc mơ thường vắng mặt lý trí. Tuy nhiên, khi tỉnh giấc thi sĩ có nhớ đúng và đủ những gì đã xảy ra trong giấc mơ hay không lại là chuyện khác. Hơn nữa, chúng như câu chuyện kcủa người điên - “đầu Ngô mình Sở”, không theo một thứ tự nào; nếu đưa vào thơ thì chức năng truyền thông của bài thơ thất bại.

Chính vì thế, dù có nhớ đúng và đủ những gì xảy ra trong giấc mơ đi nữa thì khi đưa chúng vào thơ, thi sĩ – đang trong tình trạng tỉnh táo - thường không cưỡng lại được sự thèm muốn “thêm bớt, cắt xén”, nghĩa là “nêm nếm” một chút “tài thơ” riêng của mình để “điều chỉnh”, “hợp lý hóa” câu chuyện trong mơ.

Rốt cuộc cũng chẳng khác gì những người làm thơ “phi siêu thực”.

Giải Trừ Lý Trí Bằng Kỹ Thuật Thì Sao?

Mời độc giả đọc thử một đoạn trong bài Buồn Xưa của Nguyễn Xuân Sanh.

Lẵng xuân bờ giũ trái xuân sa
Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà
Nhài đàn rót nguyệt vú đôi thơm
Tỳ bà sương cũ đựng rừng xa

Tác giả đã đặt cạnh nhau những chữ hoặc nhóm chữ “xà bần”, chẳng có “dây mơ rễ má” gì với nhau nhằm mục đích cắt đứt sự liên tưởng, để lý trí “giơ hai tay đầu hàng” rồi bỏ đi.

Nhưng để có được kết quả đó ông đã phải trả một giá rất đắt - triệt tiêu chức năng truyền thông của bài thơ – làm mất sự giao cảm giữa thi sĩ và độc giả.

Cho nên nếu bảo rằng loại bỏ lý trí để được nghe, được đọc tâm tình chân thật phát xuất từ “cái tôi đích thực” của thi sĩ thì theo tôi, những nhà thơ siêu thực đã không làm được điều đó.


Hai Cách Giải Trừ Lý Trí “Phi Siêu Thực”


1/ Thơ Thiền

Thi sĩ tâm đã đối cảnh nhưng không “dấy động”, hoặc đã hoàn toàn buông bỏ chuyện tranh cạnh hơn thua của cuộc đời trần tục, lý trí không có chỗ bám víu. Trường hợp này ta có thơ thiền. Bài thơ là “chứng đạo ca” của một người đã ngộ, đã “thấy” được lý đạo. (Từ chỗ thấy Lý đến đưa Lý vào Sự để Lý Sự Dung Thông và rồi Sự Sự Vô Ngại còn một khoảng cách xa lắm)

Thí dụ 1

THƠ TRÊN CÁT

Viết bài thơ trên cát
Con sóng vỗ xóa đi
Vô tình đâu nhớ được
Mình viết bài thơ gì
(Viên Minh, nhận trực tiếp từ tác giả)

Bài thơ mới viết xong trên cát, con sóng tràn lên xóa mất mà thi sĩ vẫn không một chút bận tâm, đến mức chẳng còn nhớ mình đã làm thơ về cái gì. Sao lại thế được nhỉ? Người làm thơ bình thường như tôi (PĐN) sẽ cố nhớ lại vì nó là tài sản tinh thần của mình. Nếu quả thật đã quên thì chắc là sẽ ngẩn ngơ nuối tiếc.

Thái độ không bận tâm của tác giả đã khiến lý trí phải “đội nón ra đi”, vô thức không có chỗ bám víu để giở trò can thiệp, “điều chỉnh”. Thiền sư Viên Minh đã biểu lộ một khả năng buông bỏ rất đáng ngưỡng mộ. Ở đây không chỉ “thấy Lý” mà đã “Lý Sự dung thông”. Việc “thấy lý” của ông đã dẫn đến hành động (sự) – thái độ ung dung, bình thản khi nhận ra mình đã quên bài thơ.

Thí dụ 2

HÃY NHƯ MÂY TRẮNG

Mây trắng lang thang khắp đỉnh trời
Tùy duyên tan hợp dạo nơi nơi
Mây không hò hẹn không vương vấn
Thế giới ba ngàn mặc sức chơi
(Linh Như, nhận trực tiếp từ tác giả)

Tâm hồn của thi sĩ như mây trắng lang thang khắp trời, lúc tan, lúc hợp tùy duyên. Không hò hẹn, không vương vấn, không trói buộc. Lý trí không có chỗ tá túc, không có lý do để xuất hiện, đành phải “đi chỗ khác chơi”.

Trong 2 bài thơ thiền tâm hồn thi sĩ vắng lặng, không tư ý, tư dục; cái tôi nhỏ bé đã hòa nhập với vũ trụ vô biên nên sự vật, cảnh đời trước mắt họ, không qua lăng kính của vô thức, hiện ra như thị, như thực. Tâm hồn họ không chỉ gần sự thật mà chính là sự thật.

     2/ Thơ Thế Tục

Trái ngược với thơ thiền, trong thơ thế tục thi sĩ đắm say mùi đời đến độ điên cuồng, máu sôi lên vì yêu thương, căm hận... Làm thơ trong tâm cảnh này, nếu có thể thơ thích hợp, dòng chảy của tứ thơ thông thoáng, cảm xúc dâng lên như nước vỡ bờ, dễ tạo cao trào. Lúc ấy lí trí sợ hãi trốn biệt, thơ là tiếng lòng chân thật của thi sĩ. Bài thơ xứng đáng bước vào Bến Bờ Thi Ca.

Thí dụ: Say Đi Em của Vũ Hoàng Chương

Vũ Hoàng Chương trong cơn say – say rượu, say nhịp điệu nhạc trên sàn nhảy – đến lạc thần trí đã bộc lộ một “thành sầu” trong tâm hồn mình.

Đó là nỗi nhục của một sĩ phu bất lực trước cảnh quê hương, dân tộc đang bị ngoại bang dày xéo. Không những thế, chính mình lại sập bẫy của quân xâm lược, sa vào cảnh nghiện ngập - nghiện rượu, nghiện vũ trường, và đặc biệt là nghiện thuốc phiện – cái nghiện mà nếu vướng vào sẽ bị người đời coi rẻ, khinh khi. Nỗi nhục ấy, “thành sầu” ấy, đối với một người có thi tài và tâm hồn như Vũ Hoàng Chương là quá to lớn – “đất trời nghiêng ngửa” cũng không thể lung lay, sụp đổ.

 
Trong số những bài thơ xứng đáng được bước vào Bến Bờ Thi Ca thì theo tôi, Say Đi Em của Vũ Hoàng Chương nổi trội nhất. Cơn điên dài, cảm xúc mạnh, hồn thơ lai láng, và lời thơ rất thật.

Độc giả có thể đọc cả bài thơ và lời bình qua link sau đây:

Sự Khác Biệt

 Những thiền sư đạt đạo, sau khi cao hứng viết bài thơ thiền - sự vật, cảnh đời xuất hiện như thị như thực trong câu chữ - lại ung dung trở về trạng thái tâm buông bỏ, thanh tịnh.

Ngược lại, trong bài thơ thế tục (Say Đi Em của Vũ Hoàng Chương) tâm hồn thi sĩ còn chứa đầy những uất ức, thèm khát, bí mật phải che giấu nhưng nhờ cơn điên làm lý trí hoảng sợ trốn biệt nên “thành sầu” nguyên bản (thật, chưa qua điều chỉnh, thay đổi của vô thức) mới “bật ra”. Nhưng trạng thái nổi điên ấy chỉ đến bất chợt, có tính cách tạm thời. Ngay sau giây phút lạc thần trí đó ông sẽ lại “hoàn hồn” để trở về một Vũ Hoàng Chương “cũ”, có hàng trăm, hàng ngàn uẩn khúc khác chất chứa trong lòng không thể nói ra.

Theo tôi, đây là hai cách mời lý trí “đi chỗ khác chơi” hiệu quả mà vẫn có thể tâm tình với độc giả và giữ được nét đẹp trong sáng của thi ca.

Lấy Chữ Dâm Để Xem Ai Thật Hơn Ai?

Với người Việt chữ dâm bị cho là không thanh tao nên thường được tránh né trong thơ. Trong mỗi người đều có “con ma dâm” nhưng hễ đề cập đến nó không khéo một tí là ai cũng dẫy nẩy như đỉa phải vôi. Vì thế, bàn đến chữ dâm trong thơ, ít ai dám bộc lộ thật lòng mình.  

Dưới đây là mấy bài thơ có nói đến chữ dâm.

PHƠI NẮNG TRÊN BÃI BIỂN

Biển vắng nàng nằm phơi nắng
Chỗ không nên phơi, cũng phơi
Tôi tình cờ đi qua đấy
Nhìn thấy nóng ran cả người
(Phạm Đức Nhì)

Bài thơ liếc qua tưởng chẳng có chỗ nào xạo, mà tác giả có xạo cũng chẳng được cái giải gì. Nhưng đọc kỹ sẽ thấy chỗ có thể xạo nằm ở câu thơ sinh tình:

Nhìn thấy nóng ran cả người”

Thân thể của người phụ nữ đang xuân, nửa kín, nửa hở trong bộ bikini thiếu vải đã khơi dậy lửa dục trong lòng người đàn ông xa lạ. Lửa dục ở đây chỉ ở phương diện xác thịt, không dính dáng gì đến chữ tình.

Có điều tùy đặc điểm về thể trạng, sinh lý của mỗi người chữ dâm sẽ mạnh yếu khác nhau. Nhìn người phụ nữ nằm phơi nắng trên bãi biển có người “lão Trư Bát Giới” vẫn ngủ yên, có người lão ta cựa quậy nhẹ nhàng. Nhưng cũng có người “vừa đối diện với cảnh sắc” là lão đã bật dậy phùng mang trợn mắt. Thi sĩ ở vào trường hợp nào độc giả làm sao biết được.

Trong bài thơ tôi đã chọn “nóng ran cả người” để chứng tỏ mình vẫn “còn sức sống” nhưng không đến mức dâm đãng quá đáng. Xạo ở đây chỉ mình thi sĩ biết, có thể nói là vô hại, không đáng trách, nhưng cũng vẫn là “không thật”

Cũng nên nói thêm, Phơi Nắng Trên Bãi Biển viết theo lối Kiếm Tông, chiêu thức không bí hiểm, lại ngắn, “kênh” không đủ dài để tứ thơ và cảm xúc chảy đến mức có “sóng sau dồn sóng trước”, đủ sức mạnh tạo cao trào cho thi sĩ lạc thần trí bật ra những lời chân thật. Vì thế, tứ thơ nói đến chữ dâm nhưng chỉ ở mức “nóng ran cả người”.

Tôi đưa bài thơ – tương đối non tay - của mình vào lót đường để độc giả có trớn đi tới những bài thơ “nặng ký” hơn.
  
TAN VỠ

Mở ngăn kéo rồi anh bỏ ngỏ
Bút viết xong không đậy nắp bao giờ
Ôi anh yêu, lơ đãng đến là
Con nai rừng của em...

Tất cả rồi dễ qua đi, qua đi
Chúng mình sẽ thành vợ thành chồng
Nếu không có một lần...
Một lần như đêm nay
Sau phút giây
Êm đềm trên ghế đá
Anh không cài lại khuy áo ngực cho em

(Dư Thị Hoàn, tập thơ Lối Nhỏ)

Tình của hai người đã chín mùi, sắp sửa thành vợ thành chồng. Nàng đã mở mấy cổng rào đón chàng vào thăm khu đồi hai quả của mình. Chàng và nàng đã đê mê “sau phút giây êm đềm trên ghế đá”. Thế rồi chỉ vì “Anh không cài lại khuy áo ngực cho em” mà nàng, không một lời cảnh báo, cắt đứt mối tình, “mời chàng đi chỗ khác chơi”. Và cuộc tình tan vỡ.

Điểm chính của tứ thơ là câu “Anh không cài lại khuy áo ngực cho em”. Đó là lý do để tình hai người tan vỡ. Chữ dâm chỉ là sản phẩm phụ, được khéo léo sắp xếp để xuất hiện cùng một lúc với câu thơ mang cả sức nặng của bài thơ.

Trai gái yêu thích nhau, dẫn nhau vào rạp “xi-nê” vừa xem phim vừa “sờ tí” cũng là chuyện thường tình. Cái bạo của Dư Thị Hoàn là dám cùng người yêu làm chuyện đó ngay trên ghế đá, chỗ có thể có “ông đi qua, bà đi lại”. Còn bạo hơn nữa là chị dám bóng gió đưa vào thơ “cảnh mở màn” của đoạn phim sex đó. So với bài Phơi Nắng Trên Bãi Biển ở trên, chữ dâm của Tan Vỡ, tuy không cụ thể, nhưng nhờ sức gợi mạnh mẽ nên đi xa hơn, hấp dẫn hơn.


CHẠM

Vùi vào tóc anh
Chạm
rong rêu đại dương, ẩm mục rừng già
ngai ngái phù sa, cánh đồng rơm rạ
Chạm sợi đa đoan, nhuộm màu dâu bể
Chạm sợi muộn phiền, ẩn mình lặng lẽ

Vùi vào môi anh
Chạm thềm mê man, chạm bờ mộng mị
Chạm lời chối bỏ, trong lời thầm thì
Dâng bời bời nhớ
Chạm bời bời quên

Vùi vào tay anh
Chạm đường vân quen, mịt mùng lạc lối
Chạm vết thương sâu, dấu chai cằn cỗi
Hôn ngón yêu thương
Chạm ngón lạnh lùng

Vùi sâu vào anh
Vùi vào giấc mơ
Vào đêm
Không anh.

(Đậu Thị Thương)


Tác giả kể lại cái cảm giác sung sướng, hạnh phúc của mình trong một đêm được đắm đuối mê say dâng trọn cả linh hồn lẫn thể xác cho người yêu, nhưng bừng tỉnh mới biết đó chỉ là giấc mơ.

Với tôi, cách cấu tứ cuả Chạm có thể coi như là biến thể của phép ẩn dụ. Tác giả diễn tả sự việc cứ như đang thực sự xảy ra với tất cả háo hức, cuồng nhiệt của mình. Chỉ đến giây phút cuối mới bất ngờ hé lộ: “Đấy chỉ là tưởng tượng, chỉ là mơ.” Người đọc cảm được ý của tác giả trong sự ngạc nhiên thích thú. (Chạm Và Mấy Lời Bình, Phạm Đức Nhì, phamnhibinhtho.blogsot.com)

Chỉ với tài sử dụng hai chữ “vùi” và “chạm” một cách điêu luyện Đậu Thị Thương đã đẩy chữ dâm đi rất xa. Người đọc như đang xem một cuốn phim sex bằng óc tưởng tượng của mình qua một thứ ngôn ngữ gợi cảm, gợi dục nhưng rất đẹp, rất thanh của thơ ca. Dâm ở đây không những không tục mà rất Người, khoác cho bài thơ chiếc áo nhân bản rất đáng kính trọng.

Có điều chị đã khéo léo trong cấu tứ để bài thơ chỉ “vừa đủ đẹp”. Chính sự khéo léo ấy khiến chữ dâm phải ngừng trước lớp rào cản cuối cùng, không được phép nhảy qua để đi tới bến. Chữ “thật” ở đây vẫn chưa được trọn vẹn.

Chữ dâm của Chạm chi tiết, cụ thể, sống động, hấp dẫn và thật hơn chữ dâm của hai bài thơ trên.


TRÁI TIM RAO BÁN

Có thể
rồi sẽ đến một ngày
em phải xót xa
xót xa
đem trái tim mình
rao bán

Một ngày
mù khơi hạnh phúc
biền biệt tình yêu
còn lại trái tim biết đớn đau – niềm kiêu hãnh cuối cùng
rồi em sẽ phũ phàng
rao bán

Một ngày
mỏi mòn trong ảo vọng
em sẽ đem bán đi trái tim mình
không cần chọn lựa người mua
không cần sòng phẳng!
chỉ để mong nhận lại một chút tình
một chút tình
dẫu là thương hại!
một chút tình
cho bớt chông chênh…

(Đinh Thị Thu Vân)

Mấy điểm đặc biệt trong Trái Tim Rao Bán:

1/

Chữ dâm núp bóng chữ tình:

Bằng mấy nhóm chữ “mù khơi hạnh phúc”, “biền biệt tình yêu”, “mỏi mòn trong ảo vọng” và đoạn thơ:

còn lại trái tim biết đớn đau – niềm kiêu hãnh cuối cùng
rồi em sẽ phũ phàng
rao bán

 ĐTTV muốn bộc lộ tâm trạng khao khát tình yêu đến điên cuồng.

Nhưng ở đoạn cuối:

không cần chọn lựa người mua
không cần sòng phẳng!
chỉ để mong nhận lại một chút tình
một chút tình
dẫu là thương hại!
một chút tình                
cho bớt chông chênh…

chữ tình tuy được lập đi lập lại nhưng rất mờ nhạt. Còn chữ dâm, tuy không được nhắc tới, đã là nhân tố chính lèo lái cảm xúc của tác giả.

Chị nói “không cần sòng phẳng” để chứng tỏ mình không phải loại gái làng chơi, cho thuê thân xác kiếm tiền, “không cần chọn lựa người mua” – nghĩa là ai cũng được, già trẻ lớn bé, đui què sứt mẻ cũng OK - để cho thấy chữ tình lúc ấy, với chị, chẳng đáng giá một xu, còn:

“chỉ để mong nhận lại một chút tình
một chút tình
dẫu là thương hại!
một chút tình                
cho bớt chông chênh…”

thì rõ ràng chữ DÂM thật lớn, khoác áo chữ tình, đã độc chiếm thể xác và tâm hồn chị.  

2/

Nói về tương lai nhưng thật ra là hiện tại

Trong đoạn đầu bài thơ:

Có thể
rồi sẽ đến một ngày
em phải xót xa
xót xa
đem trái tim mình
rao bán

nhóm chữ “rồi sẽ đến một ngày” rõ ràng là nói đến tương lai. Thêm hai chữ “có thể” cái tương lai ấy còn chưa có gì chắc chắn. Nhưng giọng điệu thì đã hàm chứa cái gì đó gấp rút lắm.

Đến đoạn cuối thì tình hình đã đến mức khẩn cấp, “bom sắp nổ”, không thể chờ đợi thêm một phút giây nào nữa. Tình thì còn có thể nấn ná chờ đợi, chứ “con ma dâm” khi đã nổi cơn điên thì “trời long đất lở”. Mà như đã nói ở trên, tình ở đây chỉ là con số không to tướng.

3/

Bài thơ chỉ bộc lộ, không kể

Trái Tim Rao Bán không dài lắm, nhưng được viết theo lối Khí Tông, nặng về cảm xúc. Tác giả không kể lể dài dòng mà ngay từ câu đầu đã thẳng thắn bộc lộ tâm trạng của mình. Có thể nói Đinh Thị Thu Vân đã tận dụng tất cả 95 chữ, từ chữ đầu đến chữ cuối, không bỏ phí chữ nào để trải lòng mình trên trang giấy. Bài thơ, vì thế, rất đậm chữ tình, cảm xúc rất mạnh.


Nhân bàn về nét độc đáo của Trái Tim Rao Bán trong một buổi trà dư tửu hậu, thằng bạn yêu văn thơ nhưng có tật nói thô tục của tôi đã phát biểu:

“Con nhỏ này chắc là ‘thèm khát’ đến cực điểm nên mới nổi điên dám viết những câu thơ bất cần thiên hạ như thế. Nhưng tao lại khoái cái ‘chất điên’ của nó.”

(Tôi đã dùng “thèm khát” thay thế 2 chữ rất tục tĩu của hắn để phù hợp với khung cảnh của bài viết này. Mong bạn đọc thông cảm.)

Tôi hoàn toàn đồng ý với hắn. Nhờ cái “chất điên” ấy tác giả không còn nỗi sợ “quan trên ngó xuống người ta trông vào”, đã tháo cũi xổ lồng để “con ma dâm” tự do chạy tới bến. Chị đã tự chà đạp lên nhân cách của của mình, nhân cách của “cái tôi văn hóa”, nhân cách mà ai cũng muốn o bế, tô vẽ để nhận được thiện cảm, ngưỡng mộ của người đời. Mà rất lạ, làm như vậy tự nhiên tâm hồn chị lại toát ra một Nhân Cách khác, Nhân Cách của “cái tôi đích thực”, Nhân Cách có chữ Nhân được viết hoa một cách trang trọng. Vì sao?

Nhờ bị cuốn vào dòng chảy của thơ, cảm xúc dâng tràn, lý trí trốn biệt, vô thức mất “trạm trung chuyển” để liên lạc, không còn khả năng tác động vào tâm hồn nên chị đã tự do nói Thật cái “muốn” của mình, điều mà nhiều người khác cũng “muốn” nhưng không chộp được cái giây phút nổi điên như chị, không có tài thơ như chị để đẩy lý trí đi chỗ khác chơi nên không dám nói.

Đinh Thị Thu Vân, qua bài thơ Trái Tim Rao Bán, đã cho độc giả chúng ta cơ hội để trò chuyện với chị bằng Tiếng Người Chân Thật.

Cánh Đồng - Một Bài Thơ Lạ


CÁNH ĐỒNG

Sau ba năm chung thủy
Với người chồng đi xa
Chị đã thất tiết một cách lạ kỳ
Với người đàn ông xấu xí
Già hơn chị rất nhiều

Trong một buổi chiều bão tố
Khi chúng tôi đến đó
Người đàn ông đã đi rồi
Chỉ còn lại trên đồng lúa
Vết xước của dĩa bay mà thôi

(Nguyễn Đức Tùng)

So với 4 bài thơ nói đến chữ “dâm” ở trên, Cánh Đồng của Nguyễn Đức Tùng có mấy điểm khác biệt:

1/

Người phụ nữ đã “thất tiết” với người đàn ông già, xấu xí và … ở một nơi nào đó ngoài quả đất của chúng ta. Thông điệp của tác giả là: Khi cơn dâm - một nhu cầu thiết yếu của con người - nổi lên thì việc làm tình với người ở ngoài hành tinh cũng có thể xảy ra.

Như thế, nói về đối tượng của chữ dâm thì:
  
     a/ Dư Thị Hoàn tận hưởng “phút giây êm đềm trên ghế đá” với người yêu.

     b/ Chạm: Rõ ràng khi mường tượng những câu thơ đầu tiên về cảnh ân ái cô giáo Đậu Thị Thương đã nghĩ đến (và chọn) người yêu của mình. Lý do: Khác với người phụ nữ trong Cánh Đồng chồng chết đã 3 năm, khác với Đinh Thị Thu Vân đang “biền biệt tình yêu”, “mù khơi hạnh phúc”, chị có người yêu nhưng có lẽ do hoàn cảnh nào đó nên tạm thời xa cách.

Khi chữ dâm ập đến, lựa chọn người yêu của mình để đưa vào “cuộc ân ái trong mơ” là hoàn toàn hợp tình, hợp lý.

     c/ Phơi Nắng Trên Bãi Biển: Phạm Đức Nhì hứng tình (“nóng ran cả người”) khi nhìn thấy người phụ nữ mặc đồ tắm nằm trên bãi biển - tuy xa lạ nhưng đẹp, “sexy”, và là người trên trái đất.

     d/ Trái Tim Rao Bán: Đinh Thị Thu Vân không kén chọn, ai cũng được, miễn là người trên trái đất. 

     e/ Người phụ nữ trong Cánh Đồng làm tình với vị khách đến thăm bằng dĩa bay.

Nguyễn Đức Tùng đã đẩy chữ dâm đi thêm một đoạn dài nữa, vượt bầu khí quyển đến một tinh cầu nào đó xa diệu vợi.

Xét về đối tượng của chữ dâm, cái nhìn của Nguyễn Đức Tùng phóng khoáng hơn, bạo hơn tác giả của 4 bài thơ trên.

2/

Chuyện người phụ nữ “thất tiết” - làm tình - với người ngoài hành tinh chỉ là bịa đặt, một kỹ xảo “xạo nghệ thuật” nhằm chuyển tải thông điệp về chữ dâm

3/

Bài thơ chỉ toàn Kể, không có Bộc Lộ Tâm Trạng. Nặng chất trí tuệ, gần như toàn lý trí, rất ít cảm xúc. 

Tác giả “nghe đồn” về chuyện này, đến xem cho rõ thực hư thì:

Người đàn ông đã đi rồi
Chỉ còn lại trên đồng lúa
Vết xước của dĩa bay mà thôi

Ông quan sát sự việc rồi dùng khả năng lý luận của mình suy ra: Người ngoài hành tinh có đến thật; chuyện “thất tiết” của người phụ nữ “chắc là có”.

Tóm lại, Nguyễn Đức Tùng đã thành công trong việc chuyển đến độc giả một thông điệp mới lạ, có tính nhân bản, nhưng ông chỉ là kẻ bàng quan nên tuy chữ dâm trong bài thơ Cánh Đồng được bóng gió nói đến một cách tài tình nhưng cảm xúc và ấn tượng thì gần như không có. Riêng chữ “thật” thì bé tí ti.


Trong 5 bài thơ về chữ dâm, xét về cường độ cảm xúc và mức độ thành thật, Trái Tim Rao Bán của Đinh Thị Thu Vân thành công nhất. (8) Con ma dâm lồng lộn đã khiến chị vật vã, ngả nghiêng đế mức gần như van xin:

không cần chọn lựa người mua
không cần sòng phẳng!
chỉ để mong nhận lại một chút tình
một chút tình
dẫu là thương hại!
một chút tình                
cho bớt chông chênh…

Chị đã bộc lộ tâm trạng của mình một cách thành thật, thật đến mức gây bàng hoàng sửng sốt cho cả những người có cái nhìn phóng khoáng về những gì xảy ra “sau bức màn the”. Theo tôi, bài thơ Trái Tim Rao Bán của Đinh Thị Thu Vân xứng đáng được bước vào Bến Bờ Thi Ca.


Thơ Càng Hay Càng Gần Sự Thật

Những năm ở trung học nhà tôi nằm trong khu lao động. Đàn ông, sau thời gian làm lụng cực khổ suốt ngày, bữa cơm chiều thường tìm vui trong ly rượu. Mà khi “rượu vào” thì “lời ra”. Có ông lúc quá chén đã “buột miệng” nói ra chuyện dan díu với người đàn bà khác. Dĩ nhiên, vợ con nghe được, tình vợ chồng, cha con lạnh nhạt, hạnh phúc đội nón ra đi. Có trường hợp chỉ vì một câu nói “buột miệng” mà gia đình gẫy đổ, chồng một nơi, vợ một nẻo, con cái học hành lở dở, đánh mất tương lai.

Trong các phiên tòa hình sự ở Mỹ cả công tố viên lẫn luật sư biện hộ đều dùng nhiều thủ thuật tâm lý đẩy bị cáo hoặc nhân chứng (của cả 2 bên) vào thế tự ái, bực tức, tự “phun” ra những chi tiết lẽ ra phải che giấu để thắng kiện. Trong trạng thái nổi điên ấy những chi tiết bị “phun” ra thường được bồi thẩm đoàn tin và cho là sự thật. Họ sẽ dựa vào đó để phán xét có tội hoặc vô tội.


Với thơ, tôi có đôi lúc cao hứng nổi điên, câu chữ tuôn ra ào ạt, phải “chộp lại” bằng tốc ký. Lúc ấy lý trí trốn biệt, vô thức không có cầu nối nên không thể xen vào để bí mật “so đo hơn thiệt”, phán xét đúng sai, yêu cầu chỉnh sửa. Những đoạn thơ ấy, khi bình tâm đọc lại nghe rất “đã” vì nhiều cảm xúc, và dĩ nhiên, rất thật.

Nếu trong thời gian sáng tác, có nhiều đoạn thi sĩ cao hứng hoặc nổi điên thì bài thơ càng hay hơn nữa. Đặc biệt, nếu cơn điên kéo dài cho đến lúc viết xong bài thơ - hoặc ít nhất cũng xong đoạn tứ thơ lên đến cao trào - thì thi phẩm ấy không những cảm xúc sẽ dạt dào mà còn có nhiều cơ hội hồn thơ lai láng.

Nhưng xin đừng quên trạng thái cao hứng đến mức nổi điên của thi sĩ tuy là điều kiện rất cần nhưng chưa đủ để có hồn thơ. Bên cạnh đó thi sĩ phải có kỹ thuật thơ điêu luyện. Đặc biệt phải biết chọn (hoặc tự tạo ra) thể thơ có dòng chảy vừa nhất khí liền mạch vừa thông thoáng, dễ đưa đến cao trào.
Nếu hồn thơ lai láng thì bài thơ sẽ đạt được mục đích cao cả nhất của người làm thơ là nói được tiếng Người (viết hoa) Chân Thật. Và sẽ đi vào Bến Bờ Thi Ca.

Kết Luận

Thi sĩ mượn thơ để bộc lộ, bày tỏ tâm trạng, để độc giả “nghe” được “tiếng lòng” của mình. Nhưng vì nhiều lý do, “tiếng lòng” của Ngài thường gian dối. Nếu bài thơ bằng cách nào đó loại bỏ được lý trí - dẫn đến loại bỏ được sự gian dối – có nghĩa là thi sĩ đã ban cho độc giả ân huệ được giao tiếp với Ngài bằng Tiếng Người Chân Thật. Với một thế giới mà cái tôi văn hóa đã gần như hoàn toàn che lấp cái tôi đích thực như hiện nay thì đó là điều vô cùng cần thiết và quý giá. Và đó cũng là sứ mạng cao cả của thơ.

Nếu thi sĩ tâm có khả năng buông bỏ như các thiền sư đạt đạo thì không nói làm gì. Thơ của Ngài không có chỗ cho lý trí bám víu, sẽ là tâm tình chân thật.

Còn với những thi sĩ trần tục như tuyệt đại đa số những người làm thơ, trong đó có tôi, thì như đã trình bày ở trên - đặc biệt là phần bàn đến mức độ thành thật khi nói về chữ dâm - thơ càng nhiều cảm xúc (thứ cảm xúc từ trạng thái tâm của thi sĩ) càng gần sự thật và giá trị nghệ thuật càng cao.

Với những thể loại văn học khác thì tôi không dám bàn tới, nhưng với thơ, tôi có thể xác quyết câu nói “Văn chương càng hay càng xa sự thật” sai hoàn toàn.

Phạm Đức Nhì
phamnhibinhtho.blogspot.com


CHÚ THÍCH:

1/ Báo Tiền Phong ngày 01/10/2019

2/ Yêu Thơ Nên Phải Hết Lòng Với Thơ, Phạm Đức Nhì, t-van.net

3/ Mối Tình Xuyên Lục Địa, Phạm Đức Nhì

4/ Giấc Mơ Anh Lái Đò hay Mối Tình Vô Vọng

5/ Triết gia người Pháp
     Tác phẩm tiêu biểu: L'Être et le Néant (Tồn Tại Và Hư Vô), La Nausée (Buồn Nôn)

6/ Triết gia người Pháp
     Tác phẩm tiêu biểu: L'Étranger (Kẻ Xa Lạ)

7/ Từ Lãng Mạn Đến Siêu Thực, Thụy Khuê

8/ Kế đến là Chạm của Đậu Thị Thương, Tan Vỡ của Dư Thị Hoàn, Phơi Nắng Trên Bãi Biển của Phạm Đức Nhì, và sau cùng là Cánh Đồng của Nguyễn Đức Tùng.



Thứ Năm, 2 tháng 1, 2020

THỂ THƠ LÀM NÊN KHÁC BIỆT




Bottom of Form
trangchínhghichéptùkhúcbạn uthể loạilưu trữ



Hai Bài Thơ Nổi Tiếng

Lê Đạt và Tô Thùy Yên là hai tài năng thơ đặc biệt của Văn Học Việt Nam.

Khi đất nước chia đôi năm 1954, Lê Đạt ở miền bắc. Từ những năm 50 ông đã nỗ lực thay đổi bộ mặt của hình thức thơ. Về nội dung, ông tham gia phong trào Nhân Văn Giai Phẩm, đứng về phía nhân dân chĩa mũi dùi vào những bất công, bất cập của chế độ. Bài thơ Nhân Câu Chuyện Mấy Người Tự Tử được nhiều người biết đến và một thời đã gây xao động văn đàn miền bắc.

Tô Thùy Yên ở miền nam. Cũng vào những năm cuối thập niên 50 ông nằm trong nhóm Sáng Tạo, tìm một hướng đi mới cho thơ ca và văn học miền nam. Sau năm 1975, ông bị đi cải tạo 10 năm. Được thả, ông sáng tác bài Ta Về được rất nhiều người tìm đọc và khen ngợi.

Hai bài thơ của hai tài năng thơ ca này có điểm giống nhau là đều khá dài nhưng lại khác nhau về mặt hình thức. Tôi có ý định đem hai bài thơ đặt bên nhau để xem sự khác biệt về hình thức có ảnh hưởng ra sao đối với giá trị nghệ thuật của bài thơ.

Ta Về Của Tô Thùy Yên

Ta Về của Tô Thùy Yên là bài thơ được rất nhiều người Việt tỵ nạn biết đến và tìm đọc. Chỉ riêng trên dactrung.net đã có trên 44,000 lượt người truy cập (27/11/2012). Có nhiều người trích dẫn, nhiều lời ngợi khen. Và cũng có một số ít người tỏ ý thất vọng vì bài thơ tuy hay đấy, nhưng không xứng đáng với tầm vóc của nhà thơ mà cuối thập niên 50, đầu thập niên 60 đã nằm trong nhóm Sáng Tạo, tiên phong khai phá một con đường mới, một hướng đi mới cho thi ca và văn học Việt Nam. Tuy nhiên ít ai đưa ra lý do xác đáng để biện minh cho lời ngợi khen hay nỗi thất vọng của họ.

Tô Thùy Yên qua Ta Về, viết khoảng năm 1985, 1986,  đã chọn phương thức nói thẳng điều muốn nói – tâm trạng ngổn ngang trăm mối của một người được thả về sau 10 năm gian khổ, đọa đày trong nhà tù cộng sản. Ở đây tứ thơ và ý thơ là một.

Về hình thức, bài thơ gồm 124 câu, chia làm 31 đoạn. Mỗi đoạn gồm 4 câu, mỗi câu 7 chữ, có thể đứng độc lập như một bài thơ hoàn chỉnh, diễn tả một mảnh tâm trạng của tác giả.Tuyệt đại đa số các đoạn thơ (30 đoạn) được gieo cước vận bằng, gián cách ở câu 2 và câu 4. Nghĩa là chữ cuối câu 2 và chữ cuối câu 4 đều ở vần bằng và hiệp vận với nhau. Chữ cuối câu 1 và chữ cuối câu 3 ở vần trắc và thường không hiệp vận.

Thí dụ:

Ta về một bóng trên đường lớn
Thơ chẳng ai đề vạt áo phai
Sao bỗng nghe đau mềm phế phủ
Mười năm đá cũng ngậm ngùi thay

Chỉ có một đoạn gieo vần bằng, liên tiếp:

Cây bưởi xưa còn nhớ, trắng hoa
Đêm chưa khuya quá hỡi trăng tà
Tình xưa như tuổi già không ngủ
Thức trọn khua từng nỗi xót xa

Còn 4 cách gieo vần khác:

Vần trắc, liên tiếp,
Vần trắc, gián cách
Vần bằng, ôm nhau
Vần trắc, ôm nhau
đều không được sử dụng.

Chính vì chỉ có hầu như một cách gieo vần nên “hội chứng nhàm chán vần” trong bài thơ rất nặng nề, rõ nét. Nhạc điệu các đoạn đều na ná giống nhau. Cố gắng lắm đọc đến đoạn thứ 10 là đã cảm thấy chán, mắt đã muốn nhíu lại. Trong mỗi đoạn thơ người đọc đều cảm thấy hơi nóng của cảm xúc nhưng vì không được liên kết, nối tiếp nhau, nên ở cuối bài không có sức nóng tổng hợp.

Hạc Bút Ông trong phần đầu của bài Ta Về, Thơ Tô Thùy Yên đăng trên trang Thơ Hà Huyền Chi đã viết:

Ta Về, 124 giòng cuồng lưu, chảy miết trong thơ.

Ý Hạc Bút Ông muốn nói: “Ta Về, 124 dòng cảm xúc mạnh của tác giả, chảy miết trong thơ.”

Tôi lại không nghĩ như thế.

Ta Về có 31 đoạn, 124 câu; mỗi đoạn là một ý thơ (hoặc tứ thơ) hoàn chỉnh, diễn tả một mảnh tâm trạng của tác giả, tạo ra và chuyển tải một khối lượng cảm xúc đến đọc giả. Còn câu (line) chưa phải là một đơn vị chuyển tải cảm xúc nên không thể là một dòng cuồng lưu được. Hơn nữa, do đặc tính của thể thơ, trong Ta Về không có dòng cảm xúc.

Với tài năng sử dụng ngôn từ điệu nghệ, tạo được nhiều hình ảnh đẹp, sống động, Tô Thùy Yên đã bơm vào mỗi đoạn thơ, và qua thơ, đến đọc giả một khối lượng cảm xúc đáng kể. Nhưng cảm xúc được tạo ra ở đâu chỉ nằm yên ở đó – cuồn cuộn quanh quẩn trong cái hố, cái vũng của mình. Không có con kênh nối liền các hố, các vũng với nhau, và do đó, không có dòng cảm xúc, không có dòng chảy của thơ.

Nét độc đáo trong Ta Về của Tô Thùy Yên là ngôn từ và hình ảnh. Tôi xin trích một số đoạn trong bài viết mà ở đó, Hạc Bút Ông đã bình chú khá kỹ lưỡng, đầy đủ, về cái hay, cái đẹp, nét sáng tạo của ngôn ngữ thơ Tô Thùy Yên, để phần nào giải thích lý do tại sao rất nhiều người trong giới văn chương đã đem lòng yêu mến bài Ta Về một cách say đắm. (Những chữ in đậm là do cách trình bày của Hạc Bút Ông)

Ta về một bóng trên đường lớn
Thơ chẳng ai đề vạt áo phai
Sao bỗng nghe đau mềm phế phủ
Mười năm đá cũng ngậm ngùi thay.

Ta trở về, một mình, cô đơn thế đó. Sông và núi cũng nát lòng. “Mềm phế phủ” là ngôn ngữ thơ đầy sáng tạo thường thấy ở Tô Thuỳ Yên. Vần “thay” tuyệt đẹp như một dấu hỏi và dấu than, dấy mãi lên những vang vọng, cháy lòng.

Vĩnh biệt ta mười năm chết dấp
Chốn rừng thiêng im tiếng nghìn thu
Mười năm mặt  sạm soi khe nước
Ta hoá thân thành vượn cổ sơ.

Ta 10 năm im lìm như thảo mộc, muông thú, chốn rừng già ngàn tuổi. Ta sống mà đã chết. Chết dấp. Thanh gỗ tầm thường thô sảm trong tay hảo kiếm thủ đã đánh ra những chiêu thức phi thường. Chữ đắc vị, chói sáng hào quang thế đó, đã trải suốt Ta Về như một hịch truyền. Vần điệu tuyệt vời, dù thơ họ Tô ít chú trọng đến yêu vận, cước vận. Nhiều chỗ vần lơi mà vẫn khít khao như giữa “im tiếng ngàn thu” và “vượn cổ sơ.”

Ta về cúi mái đầu sương điểm
Nghe nặng từ tâm lượng đất trời
Cám ơn hoa đã vì ta nở
Thế giới vui từ mỗi lẻ loi.

Có lẽ đây là đoạn thơ toàn bích nhất trong bài. Nó mở ra những góc nhìn khác ,như một chuyển bước, lật qua những trang tận tuyệt. Ta cúi đầu để tạ ơn, để cười với nghịch cảnh, cũng để tìm lại cái ta đã chết dấp 10 năm. Thơ ánh lên niềm vui giả tưởng giữa gai buồn.

Tưởng tượng nhà nhà đang mở cửa
Làng ta ngựa đá  đã qua sông
Ngừơi đi như cá theo con nước
Trống ngũ liên nôn nả gióng mừng.

Tưởng tượng thôi, quê ta đang vào mùa nước nổi, người người tiếp nhau tràn lên cứu nguy tổ quốc. Trống ngũ liên chỉ gióng lên khi thúc quân, thúc đô vật,và thúc tráng đinh hộ đê. Vui biết mấy, nhưng chỉ là vui giây lát thôi. Trong mộng tưởng.

Ta về như lá rơi về cội
Bếp lửa nhân quần ấm tối nay
Chút rượu hồng đây xin rưới xuống
Giải oan cho cuộc biển dâu này.

Thơ tuyệt vời ở ngôn ngữ và hình ảnh. Thơ chuyển mạch quá nhanh khiến ta rơi vào chân không. Ta vừa muốn rửa hờn,vừa muốn yên thân, tha hoá được sao?

Ta về khai giải bùa thiêng yểm
Thức dậy đi nào, gỗ đá ơi
Hãy kể lại mười năm truyện cũ
Một lần kể lại để rồi thôi.

Hai câu trên là sấm nổ, hịch truyền. Hai câu dưới nhẹ thếch tan loãng vào cõi yếm nhược, phủi tay.

Ta gọi thời gian sau cánh cửa
Nỗi mừng giàn giụa mắt ai sâu
Ta nghe như máu ân tình chảy.
Tự kiếp xưa nào tưởng lạc nhau.

Ta về dầu phải đi chân đất
Khắp thế gian này để gặp em
Ðau khổ riêng gì nơi gió cát
Thềm nhà bụi chuối thức thâu đêm.

Cây bưởi xưa còn nhớ, trắng hoa
Ðêm chưa khuya quá, hỡi trăng tà
Tình xưa như tuổi già không ngủ
Thức trọn, khua từng nỗi xót xa.

Có thể nói rằng Tô Thuỳ Yên là phù thuỷ của ngôn ngữ thơ. Chữ mang bùa ngải ở “sau cánh cửa”,”mắt ai sâu”, “riêng gì”, “bụi chuối thức”,”khua”. Nhưng có lẽ anh hơi tham lam, chỉ vì một chữ “khua” mà giữ lại nguyên đoạn thơ trùng dụng cả y’ , từ, lẫn hình ảnh ở mấy đoạn trên. Có đáng không?

Ta về như bóng ma hờn tủi
Lục lại thời gian kiếm chính mình
Ta nhặt mà thương từng phế liệu
Như từng hài cốt sắp vô danh.

Thêm một tuyệt chiêu của Tô Thuỳ Yên. Chỉ tiếc là “Lục lại thời gian kiếm chính mình” là một lập lại của tứ thơ đã dùng: “Ta gọi thời gian sau cánh cửa” nơi đoạn 22.

HẠC BÚT ÔNG
30-12-93

Không còn nghi ngờ gì nữa, ngôn từ thơ Tô Thùy Yên như một phụ nữ đẹp lộng lẫy, sang trọng, quý phái, cư xử lịch sự, ý tứ, đúng phép tắc. Bài thơ có rất nhiều hình ảnh đẹp. Mỗi đoạn – như một bài thơ riêng biệt – đều có một hoặc hai bức tranh sinh động chắp cánh cho trí tưởng tượng của người đọc bay cao, bay xa. Tiếc thay, do cấu trúc của thể thơ, các đoạn đứng riêng lẻ, độc lập, chứ không nối kết với nhau thành một khối nên cảm xúc ở cuối bài không có sức mạnh tổng hợp.




Nhân Câu Chuyện Mấy Người Tự Tử Của Lê Đạt


Nhân Câu Chuyện Mấy Người Tự Tử được Lê Đạt viết năm 1956, lúc nhà thơ mới 26 tuổi. Vào thời điểm ấy đất nước đã bị chia cắt. Gần 2 triệu người miền bắc di cư vào nam đã dần dần ổn định cuộc sống dưới chính quyền của ông Ngô Đình Diệm.

Phía bắc sông Bến Hải, dưới sự lãnh đạo của ông Hồ Chí Minh và đảng Lao Động (tiền thân của đảng Cộng Sản Việt Nam), đã từng bước xây dựng hạ tầng cơ sở của xã hội chủ nghĩa. Về mặt xã hội, cuộc đấu tranh giai cấp đã đến hồi quyết liệt. Trai gái yêu nhau muốn tiến đến hôn nhân phải chọn người cùng thành phần, giai cấp, phải theo đúng luồng, đúng tuyến. Những mối tình “liên giai cấp”, “vượt giai cấp” thường bị can thiệp, ngăn cản một cách thô bạo bởi áp lực của chính quyền, đoàn thể, gia đình. Với tấm lòng nhân ái, với hùng khí của tuổi thanh niên, Lê Đạt đã “Nhân Câu Chuyện Mấy Người Tự Tử” múa bút vào vùng đất nhạy cảm này:

Người công an đứng ngã tư đường phố
chỉ huy bên trái
bên phải
xe chạy
xe dừng
                 
rất cần cho việc giao thông
nhưng đem bục công an
máy móc đặt giữa tim người
bắt tình cảm ngược xuôi
theo đúng luật đi đường nhà nước
có thể gây rất nhiều chua xót
ngoài đời.

Lê Đạt nhân danh kẻ sĩ, thấy việc bất bình, lên tiếng “phù thế giáo một vài câu thanh nghị.” (Kẻ Sĩ, Nguyễn Công Trứ). Khác với Tô Thùy Yên, Lê Đạt biết mình nói những điều hợp đạo lý, bảo vệ lẽ phải nhưng vẫn mang tâm trạng sợ sệt cường quyền. Ông biết ngòi bút mình đang ngọ nguậy trong một xã hội mà tự do tư tưởng, tự do báo chí, tự do sáng tác phải nhường bước trước những chủ trương chính sách của đảng và nhà nước. Để nói lên những điều đáng nói ở trên, ông đã phải rào trước đón sau, che trên chắn dưới kỹ lưỡng, đôi khi đã phải viết mấy câu không đúng lòng mình, khen chế độ:

Thôn xóm tan dần bóng đen địa chủ
Cuộc đời như ánh trăng mỗi ngày một tỏ
Sáng bừng lên
trong những chiếc hôn đầu
Chế độ ta không cấm họ yêu nhau
Mà sao họ chết?

Nhưng ở phần cuối bài thơ, lòng thương yêu, nỗi tức giận, đã thắng sự sợ sệt. Nhà thơ hét toáng lên:

Giữa năm Cộng Hòa lớn khôn mười một tuổi
Vẫn còn lọt lưới
nhiều thói “An Nam”
Dán nhãn hiệu “Made in Cách Mạng”
Ngang nhiên xúc phạm con người
Đẩy họ đi tự tử.”

Ông chỉ dám nói “lọt lưới nhiều thói An Nam” nhưng thật ra ở đây không phải là sai phạm của một vài cá nhân riêng lẻ mà là sai lầm của một trong những nội dung chính trong chủ nghĩa cộng sản, một trong vài chính sách lớn của đảng và nhà nước lúc bấy giờ: đấu tranh giai cấp.
Bởi vậy, không lạ gì khi bài thơ vừa được phổ biến đã bị một số người chỉ trích nặng nề:

“Hết chuyện rồi sao
 mà lại đẽo đến chuyện người tự tử
 ngậm mực phun đen chế độ”

khiến ông phải vội vã viết thêm một đoạn 52 câu để chữa cháy, biện minh.

Về mặt hình thức, bài thơ Nhân Câu Chuyện Mấy Người Tự Tử gồm 127 câu (theo cách đếm câu của người viết bài này)- không kể đoạn viết thêm 52 câu – viết theo lối thơ mới biến thể. Số chữ trong câu nhiều, ít tùy hứng. Vần gieo liên tiếp, nhưng những lúc cần tác giả sẵn sàng bỏ vần để khơi rộng dòng chảy của cảm xúc. Thêm vào đó, những câu chuyển ý, chuyển đoạn  thường thoát vận nên bài thơ tuy dài, đọc giả dường như không cảm thấy dấu hiệu của hội chứng nhàm chán vần. Vào năm 1956 có được hình thức bài thơ như thế đã là rất mới.

Có thể nói giá trị nghệ thuật của bài thơ chỉ gồm trong hai chữ: cảm xúc. Bài thơ (thực sự) lấy cảm xúc làm chủ đạo. Mặc dù Lê Đạt đã có thể sử dụng ngôn ngữ đời thường để diễn đạt những ý niệm trừu tượng, phức tạp một cách tài tình, nhưng tựu trung, ngôn từ, câu cú trong bài thơ chỉ là những công cụ để khơi dòng, để cho cảm xúc đầy ắp trong lòng tác giả chảy đến trái tim đọc giả. Sau vài câu đầu, người đọc dường như không còn đọc nữa mà bị dòng cảm xúc của tác giả cuốn đi. Chỉ trong phút chốc người đọc đã thấy mình ở cuối con kênh với trái tim rộng mở, đón nhận trọn vẹn tấm lòng nhân ái, lửa giận dữ pha chút lo sợ của tác giả.

Đọc Ta Về, tôi tưởng tượng Tô Thùy Yên như một người khổng lồ đeo trên lưng một bọc lớn đựng đầy cảm xúc. Đáy bọc có một cái vòi, có valse để có thể đóng mở theo ý muốn. Thế rồi thi sĩ của chúng ta tay cầm xẻng đào hố, tay cầm vòi, mỗi hố lại mở valse xịt vào một ít cảm xúc. Được 31 hố thì buông xẻng ngửa mặt lên trời than rằng:

“Ôi! Bọc cảm xúc còn nhiều quá mà ta không còn đủ sức đào hố nữa rồi.”

(“Ta tiếc đời ta sao hữu hạn
Đành không trải hết được lòng ta.”)

Trong khi đó Lê Đạt không đào hố. Thay vào đó, ông đào một con kênh dài rồi đổ ào cả cái bọc cảm xúc xuống. Cảm xúc cứ nối tiếp nhau, nối tiếp nhau chảy thành dòng cuồn cuộn. Và khi đến cuối kênh, dòng cảm xúc đã hợp đủ sức mạnh để đẩy tung cánh cửa trái tim của độc giả.

Đọc Ta Về của Tô Thùy Yên người đọc sẽ lững thững đi tới từng chiếc hố – cả 31 hố, hố nào cũng đẹp – để thưởng thức đường nét tinh xảo của từng nhát xẻng, màu sắc đẹp đẽ, sang trọng pha lẫn chút kiêu sa của cái khối cảm xúc ở trong hố, để thấy khối cảm xúc đó sóng sánh như muốn trào lên miệng hố.

Đọc Nhân Câu Chuyện Mấy Người Tự Tử người đọc bị cuốn ngay vào dòng cảm xúc cuồn cuộn của tác giả. Đến cuối dòng kênh, với sức mạnh tích lũy được do “sóng sau dồn sóng trước”, cánh cửa trái tim của đọc giả đã được mở để từng tế bào của nó ướt đẫm cái cảm xúc đau thương, tức giận, pha chút sợ sệt của tác giả.

Tô Thùy Yên, qua Ta Về, đã chú trọng rất nhiều đến các đoạn thơ. Tâm huyết của ông đổ vào cho việc tuyển chọn ngôn từ, tạo dựng hình ảnh. Ông cho rằng: “…một bài thơ dài thành công, tức không bị sa lầy vào sự phân giải lắm lời, phải là một bài thơ mà mỗi đoạn ngắn của nó, nếu như được tách riêng ra, đã có đầy đủ cường độ của một bài thơ hoàn chỉnh.” (Vài Suy Nghĩ Về Thơ Vần, dactrung.net).


Mỗi đoạn của Ta Về – đúng vậy – nếu tách riêng ra “đã có đầy đủ cường độ của một bài thơ hoàn chỉnh.” Không những hoàn chỉnh mà còn rất hay, không một chút tì vết. Nhưng gộp 31 đoạn thơ lại ta chỉ có 31 hố thơ, 31 vũng thơ chứ không có một dòng thơ, như một dòng suối, dòng sông, biểu lộ dòng cảm xúc của tác giả.

Có thể nói Tô Thùy Yên, qua Ta Về, như một sĩ quan trong quân đội, đã biểu lộ khả năng rất xuất sắc trong tổ chức, huấn luyện, chỉ huy ở cấp đại đội. Từng người lính, từng tiểu đội trưởng, trung đội trưởng dưới quyền đều được ông tuyển chọn, huấn luyện kỹ lưỡng. Cấp trên đến thanh tra hoặc quan khách đến thăm viếng sẽ thấy các đại đội của ông đều hoàn mỹ, không một tì vết, không chê trách vào đâu được. Nếu đụng trận đại đội của Tô Thùy Yên  có thể đánh thắng đại đội đối phương tương đối dễ dàng.
 Nhưng nếu muốn xử dụng cả 31 đại đội ấy vào mục tiêu quân sự lớn hơn thì lại thiếu phối hợp, không có sự chỉ huy thống nhất.

Ngược lại, 127 câu thơ trong Nhân Câu Chuyện Mấy Người Tự Tử của Lê Đạt không phải là mấy chục đại đội riêng lẻ, biệt lập, mà là cả một sư đoàn (trừ) có sự chỉ huy nhất quán từ trên xuống dưới. Các đơn vị cấp dưới có quân số không rập khuôn cứng ngắc theo chỉ thị của bộ quốc phòng mà uyển chuyển thay đổi tùy theo tình hình cụ thể. (Số chữ trong câu thay đổi) Đây đó cũng có người lính, có khi tiểu đội trưởng, trung đội trưởng, đại đội trưởng có điểm này, điểm kia thiếu sót, nhưng tất cả đều trên dưới một lòng, phối hợp, liên kết chặt chẽ để giúp cấp chỉ huy của mình – Lê Đạt, người có tầm nhìn xa hơn – hoàn thành mục tiêu quân sự lớn hơn.

Để kết thúc bài thơ, trong khi Lê Đạt tài tình gói ghém cảm xúc dạt dào của mình trong lời kêu gọi dõng dạc, hào hùng:

Phải quét sạch mây đen
cho chân trời rộng mở
Chặt hết gông xiềng
cho những cánh tung lên
Ngày và đêm
mộng bay đầy cuộc sống
Khát vọng theo khát vọng
Không gì ngăn cản con người.”

lưu lại ấn tượng tốt đẹp trong lòng người đọc. Còn Tô Thùy Yên, do quá ôm đồm, quên rằng thơ nhắm vào điểm chứ không nhắm vào diện, thơ là cô đọng chứ không phải dàn trải, đã phải lên tiếng cam chịu thất bại:

Ta về như hạc vàng thương nhớ
Một thủa trần gian bay lướt qua
Ta tiếc đời ta sao hữu hạn
Đành không trải hết được lòng ta

Kết Luận

Thơ là trò chơi của cảm xúc (và chữ nghĩa). Nguyễn Hưng Quốc cho rằng: “Thơ là cảm xúc đi tìm một đồng cảm.” Tôi suy rộng ra: “thơ là trò  chơi chuyển tải cảm xúc (đến người đọc) bằng kỹ thuật thơ ca.” Thi sĩ dùng kỹ thuật thơ ca đào bới, khai phá, tạo ra con mương, con kênh rồi trút khối cảm xúc của mình xuống để người đọc đón nhận. Lượng cảm xúc truyền đến người đọc càng mạnh, càng nhiều thì bài thơ càng thành công.

Khi viết Ta Về, so sánh với lúc Lê Đạt viết Nhân Câu Chuyện Mấy Người Tự Tử, Tô Thùy Yên có khá nhiều lợi thế:

- Lúc ấy đã là những năm cuối của Chủ Nghĩa Hậu Hiện Đại (1945-1989). Các nhà thơ đã thử nghiệm, có người thành công, nhiều thể thơ mới lạ, một mặt giải phóng tác giả khỏi những ràng buộc về niêm luật, vần đối, số chữ trong câu, số câu trong bài, để tự do bày tỏ cảm xúc của mình, một mặt vẫn giữ được vị ngọt của thơ ca. Do đó, Tô Thùy Yên có nhiều thể thơ để chọn lựa hơn Lê Đạt.

- Tô Thùy Yên đang ở tuổi 47, 48 – độ tuổi chín mùi của tài năng thơ ca – trong khi Lê Đạt mới 26 tuổi – còn rất trẻ, chưa có nhiều kinh nghiệm.

- Tô Thùy Yên mới cải tạo về, tuy thể xác còn bị quản chế nhưng vì viết cho đối tượng độc giả khác nên tinh thần hoàn toàn tự do, trong khi Lê Đạt làm thơ và xuất bản thơ trong một chế độ không có tự do ngôn luận, tự do tư tưởng, vừa viết lại vừa phải lách để khỏi đụng chạm với chủ trương, chính sách của đảng và nhà nước.

Tô Thùy Yên có nhiều lợi thế như vậy, nhưng cuối cùng, nếu đem hai bài thơ đặt lên hai bàn cân để so sánh giá trị nghệ thuật thì, theo thẩm định của người viết bài này, bàn cân phía Lê Đạt không chỉ nhỉnh hơn một tý mà, có thể nói, đã nặng hơn một cách rõ ràng.

Tôi không nghĩ Tô Thùy Yên kém tài. Cũng không phải ông viết trong lúc không dạt dào cảm xúc. Chỉ tại, theo tôi, ông không chọn được thể thơ thích hợp.

Phạm Đức Nhì


*Phần Phụ Lục Tham Khảo (Nguyên văn bài thơ Nhân câu chuyện mấy người tự tử
của Lê Đạt và bài thơ Ta Về của Tô Thùy Yên). Với nhắc nhở của Phú Đoàn tôi cũng đăng thêm trong phần Phụ Lục Tham Khảo đoạn thơ Tái Bút để "chữa cháy" của nhà thơ Lê Đạt.

Nhân câu chuyện mấy người tự tử


Ðọc báo Nhân dân số 822
Có đăng tin mấy người tự tử
Vì câu chuyện tình duyên trắc trở
Ðêm mùa hè nóng nôi
như lửa
Tôi ngồi làm thơ
Vừa giận, vừa thương mấy người xấu số
Chân chưa đi hết nửa đường đời
Ðã vội nằm im dưới mộ

Cuộc sống cho dù lắm mưa
nhiều gió
Nhiều cay đắng xót xa
Cũng còn đẹp gấp vạn lần cái chết
Chết là hết
hết đau
hết khổ
Nhưng cũng hết vầng trăng soi sáng trên đầu
Hết những bàn tay e ấp tìm nhau
Len lén, bước chân hò hẹn

Bây giờ gặp gỡ nơi đâu?
Dù có chết cùng nhau
Cũng vẫn là chia tay vĩnh viễn
Trời đầu xuân mây vần bão chuyển
Có lạnh không?

Tôi biết hai người khổ lắm
Còn gì buồn bằng không được yêu nhau
Nhưng sao lại chết?

Nhà đạo đức vuốt hàng râu mép
Hạ kính
lắc đầu
Chép miệng
“Hòa bình chủ nghĩa”

Tôi không nghĩ vội vàng như thế
Tôi đã từng yêu
từng đã khổ nhiều
Nhưng không thể tán thành cái chết
Tôi không thích loại cúi đầu theo số kiếp
Không sống cùng nhau
Thà chết cùng nhau

Con người ta cần cứng một cái đầu
Chọi nhau cùng số kiếp
Cắn răng vào cứ sống cứ yêu

Khi Lương Sơn Bá tương tư trên giường bệnh
Ngày một võ vàng
Ôm bóng người yêu mà chết
Khi Chúc Anh Ðài xăm xăm vào huyệt
Theo nhau cho trọn lời nguyền
Cả rạp lặng yên
Những chiếc khăn tay đầm đìa nước mắt

Sự thật cuộc đời đắng cay hơn nghệ thuật
Lương Sơn Bá, Chúc Anh Ðài
Sống không được yêu nhau
Chết còn được hóa thành đôi bướm
Nhưng mấy người tự tử
Xác bây giờ mục nát dưới mồ
Biết ai thương họ?
Có phải vì chúng ta quá yêu người cũ
Mà quên người sống bây giờ?
Có phải vì chúng ta mất nhiều trong Kháng chiến,
Nên chủ trương tiết kiệm lòng mình?
Có phải vì chúng ta muôn việc rối tinh
Ðành xếp lại chuyện mấy người tự tử?

Lịch sử trải qua bao nhiêu đau khổ
Những người chết thiêu trong lửa
Những người chết gục trong tù
Những người chết treo trên cột
Tùng xẻo lăng trì
Rỏ máu trên bàn thờ nhân loại
Cho con người được làm người
Cho con người được yêu được sống

Tôi muốn gào lên cho đến khi lạc giọng:
“Không gì đau thương
bằng
mất một con người
Sao họ lại đưa nhau đi tự tử?
Có phải họ không bằng lòng chế độ
Bất mãn với cuộc đời?

Không.
Họ chưa hai mươi
Cô bé hôm nào mới lớn
Soi trộm vào gương, thấy má mình hồng
Nghĩ đến chuyện lấy chồng
đỏ mặt

Người con trai ngồi trên gò đất
Thổi sáo gọi người yêu
Làm nắng chiều
dừng lại
Lúa đương thì con gái
Cũng thấy rộn trong lòng
Xôn xao gió thổi
Ðầu sát bên đầu bàn chuyện tương lai

Thôn xóm tan dần bóng đen địa chủ
Cuộc đời như ánh trăng mỗi ngày một tỏ
Sáng bừng lên
trong những chiếc hôn đầu
Chế độ ta không cấm họ yêu nhau
Mà sao họ chết?

Người công an đứng ngã tư
đường phố
Chỉ huy
bên trái
bên phải
xe chạy
xe dừng
Rất cần cho việc giao thông.
Nhưng đem bục công an
máy móc
đặt giữa tim người
Bắt tình cảm ngược xuôi
Theo đúng luật đi đường nhà nước
Có thể gây rất nhiều chua xót
ngoài đời

Ngày Phật đản vừa rồi được nghỉ
Tôi đến nhà Văn Cao
Hai đứa rủ nhau
đi ăn thịt chó

Văn Cao vốn là người nể vợ
Ăn xong mua một gói về nhà
Tôi bỗng giật mình,
(nhưng không để lộ ra)
Người chủ xé thơ tôi
gói thịt

Ngay lúc đó tôi chỉ còn muốn chết
Như dại như điên tôi oán đất, oán trời.
Nhưng hôm nay tôi chỉ oán mình tôi
Thơ tôi bị cuộc đời ruồng bỏ
Vì tôi đã ngủ quên trong chế độ
Vẽ phấn bôi son, tô toàn màu đỏ
La liệt đầy đường hoa nở
chim kêu
“Tốt tốt!
xà và!
tốt tốt!”

Qua thơ tôi
cuộc đời như hết chuyện
Có thể khoanh tay yên trí đi nằm
Như Thượng đế bước sang ngày thứ tám

Không! Không!
bóng những ngày xưa u ám
Còn lởn vởn che cuộc đời như gấu ăn giăng
Cải cách đợt năm
Tôi có qua thăm nhiều thôn xóm
Những cây lúa cúi đầu dưới ruộng
Ðã ngẩng mặt lên trời
Mơ ước mấy nghìn đời
biểu tình trên dãy thẻ

Lũy tre làng phơi phới bay xa
Mở rộng cửa đón những ông chủ mới
Ruộng đất nông dân được đội về cởi trói
Nhưng còn tim
còn óc con người?

Giữa năm Cộng hòa lớn khôn mười một tuổi
Vẫn còn lọt lưới
nhiều thói “an nam”
Dán nhãn hiệu
“Made in Cách mạng”
Ngang nhiên xúc phạm con người
Ðẩy họ đi tự tử.

Phải quét sạch mây đen
cho chân trời rộng mở
Chặt hết gông xiềng
cho những cánh tung lên
Ngày và đêm
mộng bay đầy cuộc sống
Khát vọng theo khát vọng
Không gì ngăn cản con người.

Hà Nội, tháng 6-56
Lê Đạt 

Tái Bút



Bài thơ đến đây, đáng lẽ là chấm hết
Nhưng tác giả đọc cho mấy người quen biết
Thấy cần tái bút đôi lời
Một anh bạn chửi tôi:
“Hết chuyện rồi sao
Mà lại đẽo đến chuyện người tự tử
Ngậm mực phun đen chế độ”

Anh bạn ơi!
Tôi khuyên anh
Không đẹp gì cái lối vu oan giá hoạ
Ném bã rượu vào nhà người
“Trăm năm bia đá thời mòn
Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ”
Lịch sử luôn luôn duyệt lại
Không ai lừa được cuộc đời
Trước tòa án ngày mai

Mấy thằng bán rẻ ông cha đi làm chó
Đánh hơi gật gù
“Lại một thằng làm thơ bất mãn”
Lân la xán đến gần
Hoa chân múa tay
Rêu rao miền Bắc
Trong kia miền Nam
Thế này
Thế khác.
Cút ngay đi! Đừng giở trò kiếm chác
Ăn bẩn sủa càn
Đất nước trong khó khăn
Đối với chúng ta càng yêu càng quý
Con thương cha mẹ
Lúc ốm
Lúc đau
Chén thuốc múi chanh bảo nhau chạy chữa.

Tôi chưa quên những ngày qua đau khổ
Kiếp sống nặng trên vai
Như một án tù
Cắt tóc đi tu
Tu không trọn
Thuốc phiện dấm thanh không thoát nợ đời
Mười tám tuổi già hơn ông cụ:
Tôi đã biết thế nào là tự tử
Nên tôi yêu thiết tha cuộc đời
Càng yêu cuộc đời
Tôi càng yêu chế độ
Chế độ của tôi
Sống để bụng
Chết mang theo dưới mộ
Nhưng yêu thương
Không có nghĩa là tụng kinh gõ mõ
Bán dầu cù là

Xoen xoét “vì Đảng vì Dân”
Để lừa Dân lừa Đảng
Cuộc sống đòi hỏi người làm thơ can đảm
Vạch mặt những con sâu cách mạng
Ẩn núp trong nếp cờ
Đội mũ đi hia
Phè phỡn trên lưng chế độ

Tôi trở lại chuyện mấy người tự tử
Họ đúng hay sai,
Thôi để họ nằm yên ngủ
Dù khen dù chê
Họ cũng đã chết rồi
Nhắc nhở chúng ta nhiệm vụ những người
Còn sống
Phải hiểu
Phải yêu
Phải trọng
Con người…

Hà Nội, tháng 7-56
LÊ ĐẠT


Ta Về


Ta về một bóng trên đường lớn
Thơ chẳng ai đề vạt áo phai
Sao bỗng nghe đau mềm phế phủ
Mười năm đá cũng ngậm ngùi thay

Vĩnh biệt ta-mười-năm chết dấp
Chốn rừng thiêng im tiếng nghìn thu
Mười năm mặt sạm soi khe nước
Ta hóa thân thành vượn cổ sơ

Ta về qua những truông cùng phá
Nếp trán nhăn đùa ngọn gió may
Ta ngẩn ngơ trông trời đất cũ
Nghe tàn cát bụi tháng năm bay

Chỉ có thế. Trời câm đất nín
Đời im lìm đóng váng xanh xao
Mười năm, thế giới già trông thấy
Đất bạc màu đi, đất bạc màu

Ta về như bóng chim qua trễ
Cho vội vàng thêm gió cuối mùa
Ai đứng trông vời mây nước đó
Ngàn năm râu tóc bạc phơ phơ

Một đời được mấy điều mong ước
Núi lở sông bồi đã mấy khi
Lịch sử ngơi đi nhiều tiếng động
Mười năm, cổ lục đã ai ghi

Ta về cúi mái đầu sương điểm
Nghe nặng từ tâm lượng đất trời
Cảm ơn hoa đã vì ta nở
Thế giới vui từ nỗi lẻ loi

Tưởng tượng nhà nhà đang mở cửa
Làng ta ngựa đá đã qua sông
Người đi như cá theo con nước
Trống ngũ liên nôn nả gióng mừng

Ta về như lá rơi về cội
Bếp lửa nhân quần ấm tối nay
Chút rượu hồng đây xin rưới xuống
Giải oan cho cuộc biển dâu này

Ta khóc tạ ơn đời máu chảy
Ruột mềm như đá dưới chân ta
Mười năm chớp bể mưa nguồn đó
Người thức mong buồn tận cõi xa

Ta về như hạt sương trên cỏ
Kết tụ sầu nhân thế chuyển dời
Bé bỏng cũng thì sinh, dị, diệt
Tội tình chi lắm nữa người ơi

Quán dốc hơi thu lùa nỗi nhớ
Mười năm người tỏ mặt nhau đây
Nước non ngàn dặm bèo mây hỡi
Đành uống lưng thôi bát nước mời

Ta về như sợi tơ trời trắng
Chấp chới trôi buồn với nắng hanh
Ai gọi ai đi ngoài cõi vắng
Dừng chân nghe quặn thắt tâm can

Lời thề buổi ấy còn mang nặng
Nên mắc tình đời cởi chẳng ra
Ta nhớ người xa ngoài nỗi nhớ
Mười năm ta vẫn cứ là ta

Ta về như tứ thơ xiêu tán
Trong cõi hoang đường trắng lãng quên
Nhà cũ mừng còn nguyên mái, vách
Nhện giăng, khói ám, mối xông nền

Mọi thứ không còn ngăn nắp cũ
Nhà thương-khó quá sống thờ ơ
Giậu nghiêng cổng đổ, thềm um cỏ
Khách cũ không còn, khách mới thưa

Ta về khai giải bùa thiêng yểm
Thức dậy đi nào, gỗ đá ơi
Hãy kể lại mười năm chuyện cũ
Một lần kể lại để rồi thôi

Chiều nay ta sẽ đi thơ thẩn
Thăm hỏi từng cây, những nỗi nhà
Hoa bưởi, hoa tầm xuân có nở?
Mười năm, cây có nhớ người xa?

Ta về như đứa con phung phá
Khánh kiệt đời trong cuộc biển dâu
Mười năm, con đã già trông thấy
Huống mẹ cha đèn sắp cạn dầu

Con gẫm lại đời con thất bát
Hứa trăm điều một chẳng làm nên
Đời qua, lớp lớp tàn hư huyễn
Giọt lệ sương thầm khóc biến thiên

Ta về như tiếng kêu đồng vọng
Rau mác lên bờ đã trổ bông
Cho dẫu ngàn năm em vẫn đứng
Chờ anh như biển vẫn chờ song

Ta gọi thời gian sau cánh cửa
Nỗi mừng giàn giụa mắt ai sâu
Ta nghe như máu ân tình chảy
Tự kiếp xưa nào tưởng lạc nhau

Ta về dẫu phải đi chân đất
Khắp thế gian này để gặp em
Đau khổ riêng gì nơi gió cát
Thềm nhà bụi chuối thức thâu đêm

Cây bưởi xưa còn nhớ, trắng hoa
Đêm chưa khuya quá hỡi trăng tà
Tình xưa như tuổi già không ngủ
Thức trọn, khua từng nỗi xót xa

Ta về như giấc mơ thần bí
Tuổi nhỏ đi tìm một tối vui
Trăng sáng soi hồn ta vết phỏng
Trọn đời nỗi nhớ sáng khôn nguôi

Bé ơi, này những vui buồn cũ
Hãy sống, đương đầu với lãng quên
Con dế vẫn là con dế ấy
Hát rong bờ cỏ giọng thân quen

Ta về như nước Tào Khê chảy
Tinh đẩu mười năm luống nhạt mờ
Thân thích những ai giờ đã khuất
Cõi đời nghe trống trải hơn xưa

Người chết đưa ta cùng xuống mộ
Đâu còn ai nữa đứng bờ ao
Khóc người ta khóc ta rơi rụng
Tuổi hạc ôi ngày một một hao

Ta về như bóng ma hờn tủi
Lục lại thời gian kiếm chính mình
Ta nhặt mà thương từng phế liệu
Như từng hài cốt sắp vô danh

Ngồi đây nền cũ nhà hương hỏa
Đọc lại bài thơ thủa thiếu thời
Ai đó trong hồn ta thổn thức
Vầng trăng còn tiếc cuộc rong chơi

Ta về như hạc vàng thương nhớ
Một thủa trần gian bay lướt qua
Ta tiếc đời ta sao hữu hạn
Đành không trải hết được lòng ta.

Tô Thùy Yên