Thứ Ba, 31 tháng 7, 2018

BÌNH THƠ: THỰC TẾ BẾP NÚC

Xin được giới thiệu với quý bầu bạn và các bạn đọc trẻ quyển ebook khảo cứu Bình Thơ: Thực Tế Bếp Núc của Phạm Đức Nhì.

Đến với e-book này bạn đọc sẽ bước vào lãnh vực bình thơ không phải bằng những bài lý thuyết dài ngoẵng, khô khan mà bằng những “tác phẩm” bình thơ thực sự. Những nguyên tắc, phương cách, tiến trình để bình một bài thơ đã được “cài” sẵn rải rác trong mỗi bài bình thơ đó. Từ những “Lời Bình Ngắn” đến “Mười Bài Bình Thơ Chọn Lọc” và sau cùng là hai bài bình thơ “bài bản” có cả phần trao đổi và tranh luận với độc giả, đều ít nhiều chứa đựng kinh nghiệm thực tế bếp núc trong việc Làm Thơ và Bình Thơ của tác giả. Nếu độc giả - đặc biệt là các bạn đọc trẻ, sinh viên, học sinh – tìm thấy một vài điều bổ ích khi đọc Bình Thơ: Thực Tế Bếp Núc thì đó chính là phần thưởng quý nhất cho người bỏ công viết ra nó. Xin thành thật cám ơn trang T.Vấn & Bạn Hữu đã tạo cơ hội để e-book này được đến tay bạn đọc

Mời bạn đọc bấm vào link dưới đây để đọc (hoặc tải về) ebook Bình Thơ: Thực Tế Bếp Núc

http://t-van.net/wp-content/uploads/2017/03/B%C3%ACnh-Th%C6%A1-Th%E1%BB%B1c-T%E1%BA%BF-B%E1%BA%BFp-N%C3%BAc.pdf

Thứ Ba, 25 tháng 4, 2017

"CON VỀ NGÕ NHỎ": BÀI THƠ MỚI QUEN


                      
 

Khi bắt đầu viết bài này tôi chỉ mới biết Ngọc Mai, tác giả bài thơ, khoảng một tuần trên Facebook. Chỉ mới quen biết, chưa kết bạn. Chị thường ghé vào bình luận những bài viết của tôi. Lời bình ngôn ngữ lịch sự, biểu lộ một sự hiểu biết về thơ khá vững. Nhắn tin qua lại mấy ngày chị tiết lộ “Em cũng làm thơ nhưng thơ chỉ nói về gia đình, làng xóm, quê hương, không có gì mới lạ đâu.” Chị rất ngại ngùng nhưng tôi khuyến khích chị gởi tập thơ của chị cho tôi đọc. Sau hai ngày du ngoạn trong thế giới thơ của Ngọc Mai, tôi chọn Con Về Ngõ Nhỏ để viết lời bình.

 

Con Về Ngõ Nhỏ

 
Con về ngõ nhỏ thoảng hương

lối vào vẫn lát vàng ươm nắng chiều

đâu rồi bóng mẹ liêu xiêu

đâu rồi dải yếm rất nhiều gió hong

 

còn đâu chổi quét lá bòng

còn đâu bông bưởi trắng trong rụng đầy

chẳng còn hoa khế tím cây

chẳng còn vai mẹ hao gầy gió sương

 

mơ màng khói bếp còn vương                       

thoáng hơi nước vối tỏa hương ngọt ngào

gạo khuya ai giã đêm sao

thèm nghe tiếng mẹ ho bào canh thâu

 
Trăng non (*) khóc đẫm lá trầu

kìa như tay mẹ chải đầu cho trăng!

(Ngọc Mai)

(*) Tác giả ví mình như vầng trăng non, lúc còn bé thơ thường đứng bên giàn trầu của mẹ mà

 khóc dỗi hờn để được mẹ dỗ dành và chải đầu cho.

 

Tứ Thơ:

Không có ẩn dụ nên ý với tứ là một – tác giả qua ngõ nhỏ về thăm nhà, chỉ thấy quang cảnh cũ gợi lại biết bao kỷ niệm êm đềm, còn mẹ già đã khuất bóng.

 

Thể Thơ:

Thơ lục bát ngắn, 14 câu nhưng tác giả gieo vần nghiêm túc quá nên hơi “cứng”. Có 13 cặp vần thì đến 12 cặp là chính vận (y boong), chỉ có một cặp thông vận (hương, ươm). Giá tác giả bớt đi vài cặp chính vận thì âm điệu nhẹ nhàng hơn. Cũng may, bài thơ liền mạch, tứ thơ chảy thành dòng từ câu đầu đến câu cuối, chưa có hội chứng nhàm chán vần thì bài thơ đã hết.

 

Ngôn Ngữ Hình Ảnh:

 

Ngôn ngữ bình dị, dễ cảm, dễ thương, những hình ảnh dân quê, gần gũi đầy dấu tích, kỷ niệm của mẹ như: dáng mẹ liêu xiêu, giải yếm, chổi quét lá bòng, bông bưởi, hoa khế, nước vối, tiếng giã gạo, tiếng ho … đã được nữ thi sĩ liệt kê một cách rất nghệ thuật. Nói chung, ngôn ngữ, hình ảnh rất đậm “mùi” Nguyễn Bính nhưng ở tầm thấp hơn.

 

Những Câu Thơ Hay:

 

     a/ Lối vào vẫn lát vàng ươm nắng chiều

Câu thơ tả cảnh lối vào trong nắng chiều thật đẹp.

 

     b/ Mơ màng khói bếp còn vương

         thoảng hơi nước vối tỏa hương ngọt ngào

Chỉ là hình ảnh ấm nước vối sôi trên bếp nhưng những con chữ kết hợp khéo léo đã vẽ lên một bức tranh rất thơ, có cả hương thơm ngọt ngào lan tỏa trong không gian.

 

Đoạn Kết Hay

 
Trăng non khóc đẫm lá trầu

kìa như tay mẹ chải đầu cho trăng

 
Đọc chú thích của “trăng non” mới hiểu được niềm mơ ước đơn sơ nhưng thấm đậm nỗi nhớ thương mẹ hiền của tác giả. Hai câu kết vừa đẹp, vừa nên thơ, tạo ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc.

 

Cảm Xúc

 

Quang cảnh của “ngõ nhỏ” vắng lặng quá. Nhưng sức mạnh của những hình ảnh trong ký ức hiện về làm sống lại những kỷ niệm thân thương với mẹ hiền. Tác giả đã khéo léo đem niềm nhớ thương và nỗi buồn man mác ấy rải đều trên mỗi bóng hình của thời son trẻ, thơ dại. Phải nói bài thơ khá nhiều cảm xúc, nhưng hình như từ trong sâu thẳm của vô thức có một tiếng nói vô hình nào đó thì thầm, chỉ dẫn để dòng cảm xúc trong thơ chỉ ở mức vừa phải chứ không dậy sóng tràn bờ.

 

Theo tôi, Con Về Ngõ Nhỏ tròn trịa, không sai sót, có thể nói là bài thơ hay nhưng khi đọc lên vẫn không thấy cái gì đó thật đặc biệt. Nó như một viên đá quý, không tì vết nhưng lại không có nét riêng để hấp dẫn những tay chơi ngọc sành sõi. Nói rõ ra, Con Về Ngõ Nhỏ là bài thơ thiếu cá tính nên không gây ấn tượng mạnh mẽ cho người đọc.

 

“Hoa đẹp nằm khuất trên giàn

Em xinh đứng lẫn trong hàng, ai hay?” (PĐN)

 

Vâng! Bài thơ như một cô gái đẹp. Các chuyên viên thẩm mỹ nhìn cô - từ khuôn mặt đến vóc dáng -  không nhìn thấy điểm nào không vừa ý để chê bai. Nhưng cách ăn mặc, cách giao tiếp làm cho cô chìm khuất giữa đám đông. Giá cô biết thỉnh thoảng ăn mặc khác thường một tý (nhưng đừng lố lăng) và đứng ở một chỗ riêng biệt để vẻ đẹp của mình lộ diện, nổi bật trước mắt mọi người, thì chỉ cần thế thôi, cô sẽ có trong tầm ngắm của mình vô số những chàng trai hào hoa phong nhã, biết thưởng thức sắc đẹp và nét duyên dáng của phụ nữ, miệt mài săn đón.

 

Tôi chọn bình Con Về Ngõ Nhỏ vì quý một tài thơ chưa phát huy hết sức mạnh của mình. Ngọc Mai có kỹ thuật thơ nhuần nhuyễn, hồn thơ nhạy cảm nhưng còn e thẹn, ngại ngùng, chưa dám mở tung cánh cửa tâm hồn để những cảm xúc, những khát khao cháy bỏng của “cái tôi đích thực” đổ ập xuống trang thơ.

 

Kết Luận

 

Con Về Ngõ Nhỏ là bài thơ “mới quen”.  Tác giả của nó là người thơ ở mãi tận Bắc Giang chưa hề gặp. Ngay cả tấm hình trên Facebook để biết mặt mũi ra sao cũng không có. Thôi thì cứ như Hoài Thanh, qua thơ,  lấy hồn ta để hiểu hồn người”. Hiểu rồi thì viết mấy lời bình phẩm.  Nếu tác giả đọc bài viết này và dám “nghe lời xúi dại”, tôi tin rằng chị sẽ ung dung bước vào làng thơ với túi hành trang trên vai trong đó chứa nhiều bài thơ còn hay hơn nũa.

 

Phạm Đức Nhì


phamnhibinhtho.blogspot.com

 

Thứ Năm, 20 tháng 4, 2017

TRẢ LỜI ANH NHÁNH THÁI BÌNH


                      

Trước hết cám ơn anh Nhánh Thái Bình đã đọc và bình luận bài viết. Quan điểm khác nhau là chuyện bình thường. Sau đây là vài ý kiến của tôi.

1/ Anh cho rằng “Với thơ Huy Cận thì Cù Huy Hà Vũ chỉ là một độc giả như bao độc giả khác”, do sinh sau đẻ muộn “Cù Huy Hà Vũ không có cơ hội làm nhân chứng lịch sử cho sự kiện này” “nên quan điểm của ông cũng chi là một quan điểm mang tính cá nhân”

Tôi nghĩ khác. Cù Huy Hà Vũ không cần phải sinh cùng thời mới có thể làm nhân chứng lịch sử cho sự kiện này. Ông là con trai của một nhà thơ, sống trong một gia đình văn học, lại là một trí thức khoa bảng, đối với một tài sản tinh thần quý giá của gia tộc như Ngậm Ngùi mà bảo rằng ông không tìm hiểu, không biết những chi tiết liên quan đến bài thơ là “hơi bị sai”. Huy Cận và con cháu họ Cù không nói ra là vì một lý do riêng nào đó. Tôi không biết và anh Nhánh Thái Bình cũng không biết. Nhưng khi Huy Cận mất Cù Huy Hà Vũ đã mang uy tín cá nhân mình và uy tín của cả gia tộc trả lời phỏng vấn của đài RFI và RFA (1) thì đó không phải là điều “nói chơi”. Và cũng chẳng có gì để nói dối. Với tôi, chi tiết về xuất xứ của Ngậm Ngùi (viết khi ra thăm mộ người em gái) do CHHV phát biểu có độ khả tín cực cao.

2/ Anh cũng cho rằng “cho dù việc đó là cách hiểu sai của số đông độc giả nhưng nó vẫn là cách hiểu tích cực và đem đến một hình ảnh mới, đẹp khác của bài thơ nên tác giả không cần rạch ròi”.

Bài thơ là tấm bản đồ bằng chữ chỉ đường cho độc giả đến cánh cửa trái tim của thi sĩ. Tấm bản đồ trong Ngậm Ngùi bỏ sót một chi tiết quan trọng (lỗi của Huy Cận) nên khá đông độc giả đã đi lạc, đã hiểu sai tâm trạng, đã không đến được cánh cửa trái tim của tác giả. Nay cái chi tiết đó đã được CHHV thêm vào. Bổn phận của người bình thơ là phải dựa vào đó hướng dẫn độc giả đi đúng đường. Nói như anh Nhánh Thái Bình, họ có hiểu sai mà họ thấy đẹp, thấy sướng thì cứ để cho họ “tự sướng” thì thơ đâu còn là “nơi gặp gỡ của những tâm hồn đồng cảm”. 

 

Thứ Bảy, 15 tháng 4, 2017

TIÊU CHÍ 5: Ý TƯỞNG TRONG THƠ



 

Ý tưởng chính, đề tài của bài thơ là một tiêu chí quan trọng để người phê bình đánh giá bài thơ. Ý tưởng hay sẽ nâng giá trị của bài thơ lên rất nhiều. Tôi tạm chia Ý TƯỞNG TRONG THƠ làm 4 hạng (từ cao xuống thấp):

1/ Nhân bản, cao đẹp, khai phóng, thăng hoa tâm hồn con người, hoàn toàn mới lạ, độc đáo. (Điều này có thể đạt được nhưng rất khó và rất hiếm)

2/ Tác phẩm xuất sắc nhất đại diện cho một hiện tượng, một lối sống, một cách nghĩ của một giai đoạn lịch sử (đã lác đác có người viết đề cập đến nhưng chưa có tác phẩm nào xuất sắc).

3/ Lách, thoát hẳn (hoặc ngược với) dòng thơ Phải Đạo (những suy nghĩ đã thành nếp trong đời sống xã hội, trong tâm hồn con người).

4/ Viết theo phong trào, xu hướng chính trị, theo thị hiếu của đám đông, chọn những đề tài muôn thuở chung chung (tình yêu, quê hương …), những con đường đã có hàng triệu dấu chân.

 

Ý TƯỞNG TRONG THƠ TTKH

 

Vào thời TTKh viết Hai Sắc Hoa Ti Gôn (và 3 bài thơ khác) con người VN còn sống bó buộc trong cái khung của lễ giáo phong kiến: “Liệt nữ bất canh nhị phu” nghĩa là gái chính chuyên chỉ có một chồng. Sự chung thủy là một đức tính, một nguyên tắc ứng xử - chỉ áp dụng cho phái nữ - được hết mực ca ngợi. Đã “đeo gông vào cổ” rối mà còn “tơ tưởng đến ông láng giềng” hay bất cứ người đàn ông nào khác là đã “ngoại tình trong tư tưởng”, là đã phạm một điều đại cấm kỵ, bị xóm làng nguyền rủa, xã hội lên án.

Những bài thơ của TTKh đã đạp đổ cái luật lệ khắt khe bất nhân ấy, đã gột rửa lớp son phấn giả tạo của Khổng Giáo trên thân thể người phụ nữ, để lộ ra trước xã hội, trước cuộc đời một Con Người có trái tim, biết yêu thương, nhung nhớ, biết khổ đau. Ý tưởng của mấy bài thơ, lúc ấy, được coi là vô cùng táo bạo, không những thoát khỏi mà còn chảy ngược với dòng thơ phải đạo.

Trước TTKh chắc cũng có nhiều bậc thức giả đã nhận ra khía cạnh bất nhân trong cái gọi là “tam tòng tứ đức” của đạo Khổng - đã ép buộc nhiều phụ nữ phải gạt nước mắt chia tay người mình hết lòng thương mến, để vì lễ giáo, vì môn đăng hộ đối, vì lệnh của song thân, phải lấy, rồi ăn ở suốt đời với người mình không hề yêu thương - nhưng họ hoặc không dám nói ra hoặc chỉ than thở lén lút và những lời than thở ấy cũng thoảng bay theo gió. Tuy vậy, thi đàn nước Việt có ít nhất 2 tác phẩm đề cập đến sự coi thường tình cảm của phụ nữ trong hôn nhân vẫn còn được lưu truyền: Cung Oán Ngâm Khúc của Nguyễn Gia Thiều và Cảnh Làm Lẽ của Hồ Xuân Hương.

Tôi có mấy nhận xét sau đây:

1/ Đối tượng của CONK nhắm vào những cung nữ trong cung đình, chỉ là một bộ phận nhỏ trong cộng đồng phụ nữ của dân tộc.

2/Thể thơ song thất lục bát đã không còn được ưa thích và ngày càng ít xuất hiện trên thi đàn.

3/ Khi tôi viết những dòng chữ này (2016) chế độ phong kiến đã cáo chung từ lâu. Không còn tam cung lục viện, không còn hàng ngàn cung phi, mỹ nữ, có người phải lén rải cỏ non trước cửa phòng với ước mơ xe dê của vua ngừng lại và tấm thân trong trắng ngọc ngà của mình được ngài đoái hoài đến. Ý tưởng chính của tác phẩm - “Tiếng thét oán hờn của trang nữ lưu” - đã không còn tính thời sự, không còn thôi thúc, không gây được ấn tượng mạnh như thời Nguyễn Gia Thiều.

Có lẽ vì thế mà CONK dù vẫn có vị trí trong văn học sử, giá trị và ảnh hưởng của nó phải xếp phía sau mấy bài thơ của TTKh.

Cảnh Làm Lẽ

Kẻ đắp chăn bông, kẻ lạnh lùng,
Chém cha cái kiếp lấy chồng chung!
Năm thì mười họa, hay chăng chớ,
Một tháng đôi lần, có cũng không ...
Cố đấm ăn xôi, xôi lại hỏng,
Cầm bằng làm mướn, mướn không công.
Thân này ví biết dường này nhỉ,
Thà trước thôi đành ở vậy xong.

(Hồ Xuân Hương)

Đối tượng của Cảnh Làm Lẽ cũng chỉ là một thiểu số phụ nữ - vì một lý do nào đó - chấp nhận làm lẽ. Thể thơ đường luật chật hẹp quá, gò bó quá nên chỉ mới chạm vào lớp vỏ ngoài của nỗi khổ phải “lấy chồng chung”. Bài thơ gợi được mối thương cảm nơi người đọc nhưng mối thương cảm ấy không lớn, không sâu sắc.

Trong khi đó đối tượng của mấy bài thơ của TTKh là toàn thể giới phụ nữ. Độ phủ sóng ở đây lớn hơn gấp bội. Thêm vào đó hôn nhân ép buộc kiểu “cha mẹ đặt đâu con ngồi đó” đang xảy ra trước mắt mọi người, đang là một vấn nạn lớn của xã hội nên mấy bài thơ ấy – có thể nói mà không sợ bị cho là quá lời – đã góp đặt nền móng cho việc đạp đổ lễ giáo phong kiến của Khổng Tử, làm cuộc cách mạng giải phóng phụ nữ sau này.

Thể thơ mới phóng khoáng, tự do hơn nên TTKh đã trải tâm sự của mình một cách thoải mái, đầy đủ, sâu sắc. Hơn nữa đội quân chữ nghĩa của bà thế trận chặt chẽ hơn, chia thành 4 đạo quân bao kín trận địa (4 bài thơ) và đã chinh phục hoàn toàn tim óc của người đọc thời bấy giờ.

Dưới cái nhìn của thơ ca hiện đại thì mấy bài thơ của TTKh – dù nhỉnh hơn CONK và Cảnh Làm Lẽ - chỉ ở mức khá hoặc trên khá một chút - nhưng nhờ có ý tưởng nhân bản và táo bạo – đòi lại quyền làm chủ trái tim mình cho toàn thể phụ nữ - nên chúng, tuy chưa phải là tuyệt tác, vẫn có một vị trí đặc biệt trong văn học sử, trở thành cột mốc quan trọng trên chặng đường tiến hóa của dân tộc.

Ý tưởng trong thơ của TTKH có thể xếp vào hạng 1 và hạng 2 - vừa nhân bản, vừa có giá trị lịch sử.

(Trích trong bài Tản Mạn Về Vai Trò Của Ý Tứ Trong Thơ, Phạm Đức Nhì, t-van.net)

 

Thứ Ba, 11 tháng 4, 2017

TRẢ LỜI BẠN LÊ NGHỊ



Vừa qua bạn Lê Nghị có comment về bài viết Tiêu Chí 4: Thể Thơ (Phần 2) của tôi trên trang Thơ Thơ (Thơ Ca Nghệ Thuật). Sau đây là nguyên văn comment:

Thưa anh, đọc xong bài này em không hiểu hội chứng nhàm chán vần là cái gì luôn. Thú thật, thấy anh chê Thâm Tâm là em giật mình vì biết đâu lát nữa anh xách cụ Nguyễn Du ra phê luôn vì Truyện Kiều dài thế, chắc cũng dính cái hội chứng ấy. Nhưng may quá, anh không làm điều đó.
Anh minh họa hội chứng này bằng những bài tứ tuyệt, tạm gọi vây, chỉ có 4 câu thì hơi khập khiễng vì nó chỉ có 2 cặp vần mà nhàm chán sao được.
Vấn đề là em chưa thấy anh phân tích sự nhàm chán như thế nào, ảnh hưởng ra sao đến toàn cục của bài thơ.
Lếu láo cho vui thôi anh nhé, em không có ý định tranh luận học thuật ở đây

Nhận thấy comment của bạn Lê Nghị đặt ra nhiều câu hỏi “lớn” liên quan đến bài viết nên tôi phải viết riêng một bài ngắn để trả lời vì trả lời dài thế này không hợp với khung cảnh của phần trao đổi trên trang Thơ Thơ (Thơ Ca Nghệ Thuật).

Trả lời bạn Lê Nghị:

1/ Lếu láo cho vui thôi anh nhé, em không có ý định tranh luận học thuật ở đây

Comment trong một bài viết về văn học là đã mặc nhiên bước vào cuộc tranh luận học thuật. Ở trên đưa ra những nhận định “đao to búa lớn” nhưng ở cuối comment lại viết: “lếu láo cho vui” nghĩa là chưa đánh đã chạy làng thì coi sao được.

2/ Thưa anh, đọc xong bài này em không hiểu hội chứng nhàm chán vần là cái gì luôn.

Hội chứng nhàm chán vần là “vần nhiều quá nên đọc nghe nhàm chán”. Chỉ cần nghe qua cụm từ ấy một người  biết chút ít về  Thơ cũng có thể hiểu được nghĩa của nó. Đọc xong bài viết mà không hiểu HCNCV là gì thì hoặc là:

   a/ Đọc hấp tấp, cẩu thả.

   b/ không có khả năng hiểu

   c/ Hiểu mà giả bộ nói không hiểu.

Không biết bạn Lê Nghị ở vào trường hợp nào?

3/ Thú thật, thấy anh chê Thâm Tâm là em giật mình vì biết đâu lát nữa anh xách cụ Nguyễn Du ra phê luôn vì Truyện Kiều dài thế, chắc cũng dính cái hội chứng ấy. Nhưng may quá, anh không làm điều đó.

   a/ Người ta nghi ngờ bài Trả Lời Của Người Yêu không phải do Thâm Tâm mà do Anh Đào viết để minh chứng cho mối tình của Thâm Tâm và TTKh. (Bạn Lê Nghị không đọc phần chú thích). Mà dù bài đó có do chính Thâm Tâm viết nó cũng rời rạc, nhạt nhẽo, toàn là sự kiện, chẳng có tý “hồn vía” nào, hội chứng nhàm chán vần rất nặng.  Bạn Lê Nghị thử chỉ ra tôi viết chỗ nào không đúng hoặc bạn có thể giải thích bài thơ đó hay ở chỗ nào thì mới là tranh luận đứng đắn. Chứ nói cho sướng cái miệng thì ai nói không được.

   b/ Về truyện Kiều của Nguyễn Du, nó hay ở ngôn ngữ chắt lọc, cao sang,  câu thơ ý nhị, thâm thúy chứ về hội chứng nhàm chán vần thì nó cũng vướng phải như bao nhiêu bài lục bát dài khác, có khi còn nặng nề hơn vì nó dài hơn.  Khen chê một bài thơ phải dựa vào những tiêu chí, những thước đo căn bản chứ cứ thấy những tên tuổi lớn là cúi đầu vái lạy thì có ngày lạy nhằm bài thơ không ra gì.

5/ “Anh minh họa hội chứng này bằng những bài tứ tuyệt, tạm gọi vây, chỉ có 4 câu thì hơi khập khiễng vì nó chỉ có 2 cặp vần mà nhàm chán sao được?
Vậy là bạn Lê Nghị đọc “ba chớp, ba nhoáng” rồi. Số cặp vần (trong bài thơ lục bát) bằng tổng số câu trừ một. Bốn câu phải có đến 3 cặp vần.  Tôi đưa ra thí dụ loại 4 câu, 6 câu, 8 câu, 10 câu (mỗi loại một bài), loại 12 câu 3 bài (vì bắt đầu có hội chứng nhàm chán vần). Sau đó là những bài thơ dài hơn nữa để bạn đọc tự đọc, tự khám phá khi hội chứng nhàm chán vần xuất hiện. Nếu bạn Lê Nghị đọc cẩn thận hơn một chút thì chắc sẽ không có câu hỏi kỳ cục như vậy.

6/ Vấn đề là em chưa thấy anh phân tích sự nhàm chán như thế nào, ảnh hưởng ra sao đến toàn cục của bài thơ.

   a/ Sự nhàm chán là một “cảm giác”. không thể phân tích mà chỉ có thể cảm nhận. Tôi đã giàn trận với 3 bài 12 câu trong đó có một bài chớm dính hội chứng nhàm chán vần và đã giải thích lý do. Nếu bạn Lê Nghị đọc phần ấy chắc sẽ thấy.

   b/ Tôi đã viết rất rõ ràng ở Phần Dẫn Nhập “Như đã trình bày ở Phần I, giá trị nghệ thuật của một bài thơ, đặc biệt là thơ lục bát, bị hạ thấp một cách đáng kể nếu bài thơ ấy có Hội Chứng Nhàm Chán Vần”. Đó là ảnh hưởng của HCNCV đến toàn cục của bài thơ. Để bạn đọc trẻ dễ tiếp nhận tôi còn viết thêm về chiều ngược lại.  

Những Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến “Hội Chứng Nhàm Chán Vần”

1/ Tứ thơ: tứ thơ càng lạ người đọc càng chú ý, để tâm theo dõi, hội chứng nhàm chán vần chậm xuất hiện.

2/ Tình tiết: sự kiện này dẫn đến sự kiện khác, tâm trạng này dẫn đến tâm trạng kia, kích thích óc tò mò của người đọc. Tình tiết càng hấp dẫn người đọc càng dễ quên (hoặc vượt qua) cảm giác nhàm chán.

3/ Độ dễ tiêu của câu chữ: chọn ngôn ngữ tượng hình, dễ cảm nhận, dễ tiêu, tránh dồn thông tin dầy đặc, nặng chất trí tuệ, bắt người đọc phải căng óc ra để “tiếp nhận”, rất dễ ngán, hội chứng nhàm chán vần dễ xâm nhập.

4/ Cảm xúc: cảm xúc tầng 3 (hồn thơ) càng mạnh người đọc không (hoặc ít) phải dùng đến lý trí, câu thơ, đoạn thơ không đi qua đầu mà hướng thẳng đến tim. (Cảm xúc tầng 1 đến từ câu chữ, cảm xúc tầng 2 đế từ thế trân, cảm xúc tầng 3 đến từ sự cao hứng của tác giả “bên ngoài chữ nghĩa”).

Nếu bạn Lê Nghị chịu đọc thì chắc không có câu hỏi này đâu.

Kết Luận

Khi một bài viết kiểu “phê bình văn học” được phóng đi, tác giả của nó phải xắn tay áo, sẵn sàng trả lời độc giả. Có người hỏi để tác giả và độc giả có cơ hội mở rộng, bàn sâu thêm về đề tài đang tranh luận. Có những bạn đọc trẻ đặt câu hỏi để nghe tác giả giải thích hầu mở mang kiến thức. Nhưng cũng có những người comment, đặt câu hỏi với mục đích riêng tư khác. Dù hỏi với mục đích gì đi nữa, để tôn trọng độc giả và để bảo vệ uy tín của mình, tác giả cũng có bổn phận trả lời. Xin được nói nhỏ với các bạn đọc trẻ một câu. Moi tim óc để trả lời hai loại độc giả đầu tác giả cảm thấy hứng thú hơn nhiều.

Phạm Đức Nhì

nhidpham@gmail.com

Thứ Hai, 10 tháng 4, 2017

TIÊU CHÍ 4: THỂ THƠ (Phần 2)


                                  TIÊU CHÍ 4 THỂ THƠ (PHẦN 2)

                        HỘI CHỨNG NHÀM CHÁN VẦN CỦA THƠ LỤC BÁT

 

Phần Dẫn Nhập

Đây không phải là một tiểu luận về thơ mặc dù cũng dính líu một chút đến lý thuyết thơ và cũng khá … dài (14 trang). Lý do: cái chỗ dính líu đến lý thuyết thơ đã được bàn ở bài trước (Tiêu Chí 4: Thể Thơ - Phần I). Bài này chỉ là phần tán rộng ra cho dễ hiểu nên rất nhẹ về biện giải mà nặng về thí dụ dẫn chứng. Như đã trình bày ở Phần I, giá trị nghệ thuật của một bài thơ, đặc biệt là thơ lục bát, bị hạ thấp một cách đáng kể nếu bài thơ ấy có Hội Chứng Nhàm Chán Vần. Vì thế tôi tuyển chọn những bài thơ lục bát từ ngắn đến dài, đưa vào bài viết như những thí dụ cụ thể, để các bạn đọc trẻ có cơ hội tự đọc, tự khám phá và cảm nhận sự xuất hiện của Hội Chứng Nhàm Chán Vần hầu nắm vững thêm một mấu chốt quan trọng để thẩm định giá trị một bài thơ.

 

Những Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến “Hội Chứng Nhàm Chán Vần”

1/ Tứ thơ: tứ thơ càng lạ người đọc càng chú ý, để tâm theo dõi, hội chứng nhàm chán vần chậm xuất hiện.

2/ Tình tiết: sự kiện này dẫn đến sự kiện khác, tâm trạng này dẫn đến tâm trạng kia, kích thích óc tò mò của người đọc. Tình tiết càng hấp dẫn người đọc càng dễ quên (hoặc vượt qua) cảm giác nhàm chán.

3/ Độ dễ tiêu của câu chữ: chọn ngôn ngữ tượng hình, dễ cảm nhận, dễ tiêu, tránh dồn thông tin dầy đặc, nặng chất trí tuệ, bắt người đọc phải căng óc ra để “tiếp nhận”, rất dễ ngán, hội chứng nhàm chán vần dễ xâm nhập.

4/ Cảm xúc: cảm xúc tầng 3 (hồn thơ) càng mạnh người đọc không (hoặc ít) phải dùng đến lý trí, câu thơ, đoạn thơ không đi qua đầu mà hướng thẳng đến tim. (Cảm xúc tầng 1 đến từ câu chữ, cảm xúc tầng 2 đế từ thế trân, cảm xúc tầng 3 đến từ sự cao hứng của tác giả “bên ngoài chữ nghĩa”).

Những Bài Lục Bát Ngắn

Những bài lục bát 10 câu trở lại (ngoại trừ trường hợp “vờn bóng giữa sân” hoặc ý trùng lặp) hội chứng nhàm chán vần chưa kịp xuất hiện thì bài thơ đã hết.

 

SÔNG  LẤP

Sông xưa rày đã nên đồng

Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai

Vẳng nghe tiếng ếch bên tai

Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò.

(Trần Tế Xương)

Đây là một tuyệt tác của Trần Tế Xương.  Chỉ với 4 câu ông Tú Vị Xuyên đã bày tỏ tâm tình hoài cổ sâu sắc của mình một cách tài tình. Từ tiếng gọi đò gợi nhớ đến bến đò, từ bến đò gợi nhớ đến con sông (nay đã bị lấp), từ con sông lấp gợi nhớ đến thời Nho học còn giữ vị trí quan trọng trong xã hội. Ẩn dụ tuyệt vời. Bài thơ chỉ có 4 câu nên chưa có hội chứng nhàm chán vần.

 BUỔI CHIỀU VÀ MÁI TÓC
Buổi chiều và mái tóc em
Bắt đầu phủ xuống những miền núi xa.
Anh nằm khi tóc bay qua
Đám mây tình tự thịt da nhẹ nhàng
Giống như trời lấy áo choàng
Đắp lên thân thể võ vàng từ lâu.


(Nguyên Sa)                                                                     

Đây là bài thơ tình ngắn, ngôn ngữ bay bướm, hình ảnh đẹp. Vì ngắn, có 6 câu, nên chưa có hội chứng nhàm chán vần.

THU CẢM

Mùa thu đẹp đến nao lòng

nắng hơi hơi nắng, mây bồng bềnh mây

người thì nửa tỉnh nửa say

nửa lo giá chợ, nửa ngây vì trời

mùa thu ơi, đẹp vừa thôi

giăng chi khoảng cách giữa đời và mơ

đời càng nhiều nỗi ưu tư

ngưòi càng đơn lẻ trước thu tuyệt vời

(Nguyễn Thị Hồng, Thơ VN Thế Kỷ 20 Thơ Trữ Tình, NXB Giáo Dục, trang 308)

 

Đây là bài thơ hay.
Nguyễn Du viết:

Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu

Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ

nhưng ở đây trong đôi mắt của tác giả lại có sự mâu thuẫn giữa cảnh và tình, Cảnh thu thì rất đẹp mà trong lòng lại đầy nỗi ưu tư. Bài thơ có 8 câu nhưng nhờ tình tiết sinh động và tứ thơ đã chảy thành dòng nên vẫn chưa xuất hiện giọng ầu ơ, chưa có hội chứng nhàm chán vần.

 

TIẾT PHỤ NGÂM
Bản Dịch Ngô Tất Tố

Chàng hay em có chồng rồi,
Yêu em chàng tặng một đôi ngọc lành.
Vấn vương những mối cảm tình,
Em đeo trong áo lót mình màu sen.

Nhà em vườn ngự kề bên,
Chồng em cầm kích trong đền Minh Quang.
Như gương, vâng biết lòng chàng,
Thờ chồng, quyết chẳng phụ phàng thề xưa.

Trả ngọc chàng, lệ như mưa,
Giận không gặp gỡ khi chưa có chồng. (1)

 

Đây là bài thơ trong đó người thiếu phụ từ chối lời tỏ tình của một người có địa vị cao trọng. Lý do bà đưa ra là “Thờ chồng quyết chẳng phụ phàng thề xưa”. Tác giả của Tiết Phụ Ngâm – Trương Tịch – đã dùng vế thứ hai “liệt nữ bất canh nhị phu” để gởi đến Lý Sư Đạo - người mời ông ra “cộng tác” - ý của vế thứ nhất “trung thần bất sự nhị quân”. Nhờ bài thơ, ông vừa tránh được họa chiến tranh với một sứ quân quá mạnh vừa không phải phục vụ một Tiết Độ Sứ của phe nghịch đảng. Hiểu được lý do ra đời của bài thơ độc giả có thể đọc 10 câu lục bát trên một lèo mà không ngán. Hội chứng nhàm chán vần đã bị tình tiết mạch lạc của bài thơ lấn át.

 

Những Bài Lục Bát 12 Câu Trở Lên

 

Trong số các thể thơ đang lưu hành, lục bát có độ ngọt cao nhất. Số lần gieo vần bằng tổng số câu trừ một. Như vậy bài thơ lục bát 12 câu có 11 lần gieo vần hay 11 cặp vần. Bởi thế làm thơ lục bát từ 12 câu trở lên cũng như hành quân mà đi vào khu mìn bẫy của địch, không cẩn thận lính tráng sẽ đạp phải mìn, thơ sẽ mắc phải hội chứng nhàm chán vần. (Tôi chọn số 12 là do kinh nghiệm cá nhân; tùy mức độ “hảo ngọt” của mình bạn đọc có thể chọn con số khác).

Sau đây là 3 bài lục bát dài bằng nhau (6 cặp lục bát 12 câu).

HOA ĐÀO NỞ SỚM

Hoa đào trước ngõ em qua
Sáng nay bỗng ướm cành hoa vào mùa
Đầy vườn lộc biếc cây
Năm đi chưa hết, đã ngờ xuân đâu

Bỗng dưng một đóa hoa đầu.
Nghe như đất lạ năm nào gặp em
Phải rằng xe xích thời gian
Vầng dương bên ấy mọc sang bên này?

Nắng hoe, bướm trở mình bay
Cành non nở vội kịp ngày chào hoa.
Lòng anh tự độ em qua
Hoa bay bướm dạo cùng ta vào đời.

(Chế Lan Viên)

Hoa Đào Nở Sớm, theo tôi, đã hơi có giọng ầu ơ, đã chớm – dù rất nhẹ - hội chứng nhàm chán vần. Lý do: tứ thơ bình thường lại có dấu hiệu “vờn bóng giữa sân”. Vừa mới “Sáng nay bỗng ướm cành hoa vào mùa” ở đoạn trước, đoạn sau lại “bỗng dưng một đóa hoa đầu”, đã vậy, đoạn cuối còn thêm “Cành non nở vội kịp ngày chào hoa”. Rõ ràng sự trùng lặp (thiếu nghệ thuật) của ý tứ đã tạo cảm giác “ngao ngán” lẽ ra chưa nên có. Hơn nữa, tác giả khi làm thơ đã nghiêng về phía cái đầu nên ít cảm xúc. Vì thế hội chứng nhàm chán vần đã xuất hiện sớm hơn bình thường. Nhận xét như vậy hoàn toàn chủ quan, tùy thuộc vào cảm nhận từ thính giác của mỗi người. Tuy nhiên, nếu bạn đọc lắng nghe và để ý, một lúc nào đó bạn có thể tự mình khám phá ra điều đó.

 
CHỚM SANG VỊ HÈ

Đường tình đã nở hoa xoan
Lao xao gió gợn, hân hoan lá chờ
Trên cao ngan ngát hương đưa
Em ơi, tim tím mơ mờ chùm hoa..

Nhẹ nhàng gió thổi tháng ba
Trong hơi thanh mát có hòa nồng say
Xuân còn, hè đã thoảng bay
Một niềm xa vợi ngất ngây khí trời

Tình yêu muôn thuở, em ơi!
Hôm nay lại đượm hương đời, màu xoan
Ý xuân trong lúc chứa chan
Tình đôi ta lại chớm sang vị hè.

(Xuân Diệu)
Tứ thơ không có gì đặc biệt, có dòng chảy nhưng chỉ lững lờ vì ít cảm xúc, tuy nhiên, không có sự trùng lặp và bài thơ có 12 câu (không dài lắm) nên chưa có hội chứng nhàm chán vần.

NGẬM NGÙI

Nắng chia nửa bãi, chiều rồi...
Vườn hoang trinh nữ xếp đôi lá rầu.
Sợi buồn con nhện giăng mau,
Em ơi! Hãy ngủ … anh hầu quạt đây.

Lòng anh mở với quạt này,
Trăm con chim mộng về bay đầu giường.
Ngủ đi em, mộng bình thường!
Ru em sẵn tiếng thuỳ dương mấy bờ

Cây dài bóng xế ngẩn ngơ
Hồn em đã chín mấy mùa thương đau?
Tay anh em hãy tựa đầu,
Cho anh nghe nặng trái sầu rụng rơi.

(Huy Cận)

 

Tứ thơ chảy thành dòng khá nhanh vì nhiều cảm xúc, có thể đưa người đọc tới bến mà không bị khựng ở chỗ nào. Trong bối cảnh đó hội chứng nhàm chán vần khó xuất hiện.

 

PHÚT BÌNH YÊN VĂN MIẾU

(Tặng Phạm Đức Nhì – nhà thơ Mỹ gốc Việt)

 

Anh từ Texas về đây

Bạn thơ dang rộng vòng tay đón chào

Bỏ qua thủ tục ngoại giao

Toàn thằng lính trận thuở nào choảng nhau
 

Người mẻ trán, kẻ sứt đầu

Trở trời trái gió ngấm đau một mình

Duyên thơ nối nhịp ân tình

Rời tay súng chẳng phải rình rập ai
 

Vào nơi trọng dụng hiền tài

Qua Khuê Văn Các sánh vai cùng người

Thơ hay thả đỏ rực trời

Rưng rưng ánh mắt rạng ngời lửa thiêng
 

Vượt trên giông bão trăm miền

Quê hương ơi phút bình yên diệu kỳ. (2)

 
(Nguyên Tiêu Canh Dần, trannhuong.net)

Trịnh Anh Đạt

Bài thơ có 14 câu và cũng không mắc phải hội chứng nhàm chán vần.


THIẾU NỮ

Cô gái ơi, anh nhớ em!!!
Như con nít nhớ cà rem vậy mà
Như con dế trống đi xa
Một hôm chợt nhớ quê nhà, gáy chơi

Con dế nó gáy một hơi
Còn anh gáy hết một thời con trai
Tiếng gáy bò lên lỗ tai
Làm em nhột suốt một ngày một đêm

Cô gái ơi, anh nhớ em !!!
Như má lúm nhớ đồng tiền đúng chưa ?
Như cà chớn nhớ cà chua
Như da em nhớ "da-ua" ngọt ngào

Cái nhớ nhảy qua hàng rào
Không thèm đăng ký cứ nhào vô anh
Xô ra thì thấy không đành
Nên anh ôm lấy, ngồi canh giữ hoài

Con kiến còn nhớ củ khoai
Huống chi tóc ngắn tóc dài nhớ nhau
Nhớ nhau không biết để đâu
Nếu để trên đầu thì tóc che đi

Để trong túi áo cũng kỳ
Lỡ đi đường rớt, lấy gì chứng minh
Chi bằng giả bộ làm thinh
Hét lên " nhớ quá " một mình nghe chơi !!!

(Bùi Chí Vinh, Thơ VN Thế Kỷ 20 Thơ Trữ Tình, NXB Giáo Dục, trang 887)

Đây là bài thơ tình nhẹ nhàng, viết về một đề tài rất bình thường nhưng ngôn ngữ và giọng thơ “lạ lạ”, dí dỏm, có duyên và dễ thương. Chính vì thế mà đọc cả bài 24 câu một lèo cũng chưa thấy ngán. Hội chứng nhàm chán vần đã bị những đặc tính “lạ lạ”, dí dỏm, có duyên, dễ thương lấn át.

 

ĐẤT VIỆT LÀ CỦA VIỆT NAM

Biển trời hải đảo đât liền
Là máu da thịt Rồng Tiên ngàn đời .
Việt Nam đất nước con người  
Tình yêu Tổ Quốc rạng ngời trong ta.

Trời xanh sông núi hiền hòa
Biển quê ôm ấp đảo xa đảo gần
Trường Sa quần đảo thiên thần
Đảo chìm đảo nổi quây quần bên nhau.

Hoàng Sa quần đảo ngọc châu
Tỏa rung khí phách con tàu hiên ngang
Thành đồng dạ ngọc gan vàng
Anh hùng đảo sắt thép gang kiên cường.

Chẳng mòn đứng trước đại dương
Gan cùng bão tố bốn phương đổ vào
Người Việt Nam mãi tự hào
Tâm hồng Phúc rộng Tài cao Đức lành.

Bốn nghìn năm sống đấu tranh
Việt Nam tổ quốc đã thành thiêng liêng
Đât Việt Nam đất Việt thiêng 
Muôn đời là của con Tiên Cháu Rồng .

Lũ xâm lăng chớ có hòng
Chỉ một hạt cát đừng mong hỡi mày
Biển trời hải đảo xưa nay
Biên cương hùng vĩ đất này của ta .

Đây Hoàng Sa - Kia Trường Sa
Là xương máu thịt nước nhà Việt Nam .
Kẻ thù xin chớ lòng tham
Đất Việt là của Việt Nam muôn đời …! 

(Chu Long)

Đây là bài thơ “phải đạo”, viết theo xu hướng của xã hội, có 28 câu, nhưng vì viết bằng cái đầu nên thiếu cảm xúc, chỉ đọc khoảng một nửa là đã thấy ngán. Nửa còn lại càng về cuối càng như “cơm nếp nát”

TRẢ LỜI CỦA NGƯỜI YÊU

Các anh hãy chuốc thật say
Cho tôi những cốc rượu đầy rồi im!
Giờ hình như quá nửa đêm
Lòng đau đau lại cái tin cuối mùa.
Hơi đàn buồn như trời mưa
Các anh tắt nốt âm thừa đi thôi!
Giờ hình như đã tối rồi
Bánh xe đã nghiến, đã rời rã đi!

Hồn tôi lờ mờ sương khuya
Hờ rung tôi viết bài thơ trả lời
Vâng, tôi vẫn biết có người
Một đêm cố tưởng rằng tôi là chồng
Để hôm sau khóc trong lòng
Vâng, tôi vẫn biết cánh đồng thời gian
Hôm qua rụng hết lá vàng
Và tôi lỡ chuyến chiều tàn về không.
Tiếng xe trong vết bụi hồng
Nàng đi thuở ấy nhưng trong khói mờ.
Tiếng xe trong xác pháo xưa
Nàng đi có mấy bài thơ trở về
Tiếng xe mở lối vu quy
Hay là tiếng cắt nàng chia cuộc đời
Miệng chồng Khánh gắn trên môi
Hình anh mắt Khánh sáng ngời còn mơ
Đàn xưa từ chia đường tơ
Sao tôi không biết hững hờ nàng đan
Kéo dài một chiếc áo lam
Tơ càng đứt mối, nàng càng kéo giay

Nàng còn gỡ mãi trên tay
Thì tơ duyên mới đã thay hẳn mầu
Chung hai thứ tóc đôi đầu
Bao giờ đan nổi những câu ân tình
Khánh ơi, còn hỏi gì anh?
Lá rơi đã hết màu xanh màu vàng
Chỉ kêu những tiếng thu tàn
Tình ta đã chết anh càng muốn xa
Chiều tan, chiều tắt, chiều tà
Ngày mai, ngày mốt vẫn là ngày nay
Em quên mất lối chim bay
Và em sẽ chán trông mây trông mờ
Đoàn viên từng phút từng giờ
Sóng yên lặng thế em chờ gì hơn?
Từng năm từng đứa con son
Mím môi vá kín vết thương lại lành
Khánh đi còn hỏi gì anh
Ái tình đã vỡ, ái tình lại nguyên
Em về đan nốt tơ duyên
Vào tà áo mới, đừng tìm mối xưa
Bao nhiêu hạt lệ còn thừa
Dành ngày sau khóc những giờ vị vong
Bao nhiêu những cánh hoa lòng
Hãy dâng cho trọn nghĩa chồng hồn cha
Nhắc làm chi chuyện đôi ta
Bản năng anh đã phong ba dập vùi

Hãy vui lên các anh ơi!
Nàng đi tôi gọi hồn tôi trở về
Tâm hồn lạnh nhạt đê mê
Tiếng mùa lá chết đã xê dịch chiều
Giờ hình như gió thổi nhiều
Những loài hoa máu đã gieo nốt đời
Tâm hồn nghệ sĩ nổi trôi
Sá chi cái đẹp dưới trời mong manh
Sái chi những truyện tâm tình
Lòng đau đem chứa trong bình rượu cay!

(Thâm Tâm)

Nếu đúng là của Thâm Tâm (3) thì tác giả Tông Biệt Hành viết bài thơ này quá tệ,  Đọc Trả Lời Của Người Yêu tôi thấy rời rạc, nhạt nhẽo, toàn là sự kiện, chẳng có tý “hồn vía” nào. Bài thơ dài, 64 câu, hội chứng nhàm chán vần rất nặng.

 

NGƯỜI HÀNG XÓM

Nhà nàng ở cạnh nhà tôi
Cách nhau cái dậu mùng tơi xanh rờn
Hai người sống giữa cô đơn
Nàng như cũng có nỗi buồn giống tôi

Gía đừng có dậu mùng tơi
Thế nào tôi cũng sang chơi thăm nàng.
Tôi chiêm bao rất nhẹ nhàng ...
Có con bướm trắng thường sang bên này.

Bướm ơi! Bướm hãy vào đây!
Cho tôi hỏi nhỏ câu này chút thôi.
Chẳng bao giờ thấy nàng cười
Nàng hong tơ ướt ra ngoài mái hiên;

Mắt nàng say đắm trông lên
Con bươm bướm trắng về bên ấy rồi!
Bỗng dưng tôi thấy bồi hồi
Tôi buồn tự hỏi: - Hay tôi yêu nàng?

Không, từ ân ái lỡ làng
Tình tôi than lạnh tro tàn làm sao!
Tơ hồng nàng chẳng cất vào
Con bươm bướm trắng đêm nào cũng sang.


Mấy hôm nay chẳng thấy nàng
Gía tôi cũng có tơ vàng mà hong
Cái gì như thể nhớ mong ?
Nhớ nàng! Không! Quyết là không nhớ nàng.

Vâng, từ ân ái lỡ làng
Lòng tôi riêng nhớ bạn vàng năm xưa.
Tầm tầm trời cứ đổ mưa
Hết hôm nay nữa là vừa bốn hôm

Cô đơn buồn lại thấy buồn.
Tạnh mưa bươm bướm biết còn sang chơi?
Hôm nay mưa đã tạnh rồi.
Tơ không hong nữa, bướm lười thôi sang!

Bên hiên vẫn vắng bóng nàng
Rưng rưng tôi gục xuống bàn rưng rưng!
Nhớ con bướm trắng lạ lùng!
Nhớ tơ vàng nữa, nhưng không nhớ nàng

Hỡi ôi! Bướm trắng tơ vàng!
Mau về mà chịu tang nàng đi thôi!
Đêm qua nàng đã chết rồi
Nghẹn ngào tôi khóc, qủa tôi yêu nàng

Hồn trinh còn ở trần gian!
Nhập vào bướm trắng mà sang bên này.

(Nguyễn Bính)

 

Tôi đặt bài thơ Người Hàng Xóm ở cuối để bạn đọc thấy cái tài của Nguyễn Bính. Lục bát viết đến 42 câu là rất dài nhưng tôi có thể đọc một lèo từ đầu đến cuối. Tình tiết hấp dẫn, và đặc biệt là cảm xúc nóng hổi đã khiến dòng chảy của tứ thơ vừa mạnh, vừa nhanh, lấn át được hội chứng nhàm chán vần.

 

Kết Luận

Làm thơ lục bát nên tránh “vờn bóng giữa sân” – nghĩa là “cà kê dê ngỗng” ở giữa bài; căn bệnh nhàm chán vần sẽ xuất hiện làm tổn hại bài thơ ngay. Đọc hoặc bình thơ lục bát, nếu có khả năng nhận diện được hội chứng nhàm chán vần bạn đã có trong tay chiếc chìa khóa để mở cánh cửa đầu tiên hầu tiếp cận cái hay, cái đẹp cũng như cái dở, cái hạn chế của bài thơ một cách tự tin hơn. Hãy xem bài viết này như những gợi ý và hướng dẫn trong lúc bạn tìm cách nắm giữ chiếc chìa khóa đó.

 

Phạm Đức Nhì


phamnhibinhtho.blogspot.com

 

Chú Thích:

1/ Trương Tịch tự Văn Xương, người đất Tô Châu, thi gia thời Trung Đường (766-827), đậu Tiến sĩ dưới triều vua Đức Tông. Năm 799, được Hàn Dũ tiến cử làm Quốc tử bác sĩ, cuối cùng lên đến chức Quốc tử tư nghiệp.
Trong nước lúc bấy giờ lại diễn thành cuộc phiên trấn cát cứ. Mỗi Tiết độ sứ chuyên chế mỗi phương. Trấn nào, Tiết độ sứ tuân mạng triều đình thì cho là thuận đảng. Trái lại, Tiết độ sứ nào đem binh đối kháng lại triều đình thì cho là nghịch đảng. Trương Tịch hiện làm một tân khách trong mạc phủ của một Tiết độ sứ thuộc về thuận đảng. Ông muốn giúp triều đình mong đạt được cuộc thống nhất đất nước.
Bấy giờ có Lý Sư Đạo là một Tiết độ sứ thuộc về nghịch đảng, vốn tay quật cường. Biết Trương là người có tài nên họ Lý ân cần viết thư, đem lễ vật đến đón Trương về giúp mình trong công cuộc xây dựng sự nghiệp.
Trương không dám từ khước ngay. Vì tình thế lúc bấy giờ nguy ngập lắm. Thế lực của Lý thì mạnh, nếu ông không bằng lòng thì chắc chắn hai trấn phải sinh chiến họa to. Do đó, ông phải giả cách cám ơn nhận lễ rồi dần dần tìm cách từ khước. Trong khi hoàn lại lễ vật, Trương Tịch làm một bài thơ kèm theo, nhan đề là "Tiết phụ ngâm" (hoavouu.com)

2/ Tết Canh Dần 2010 tôi được nhà thơ Trịnh Anh Đạt gởi thiệp mời tham dự lễ hội Thơ Nguyên Tiêu ở Văn Miếu Quốc Tử Giám, Hà Nội. Là nhà thơ từ Mỹ về, đã từng đối đầu với tác giả ở mặt trận Huế, Quảng Trị trước 75 và đã viết nhiều bài thơ chống cộng nảy lửa sau đó, tôi vẫn được TAĐ quý mến dẫn vào Văn Miếu giới thiệu với đám bạn văn chương của ông. Chúng tôi, những kẻ cựu thù, đã có mấy buổi họp mặt bàn tán chuyện văn chương lý thú. Bài Phút Bình Yên Văn Miếu được sáng tác nhân dịp này.

3/ Bài thơ này được tác giả Anh Đào đăng trên một tập san ở Hà Nội năm 1951, ghi là của Thâm Tâm làm để minh chứng cho mối tình giữa Thâm Tâm và T.T.Kh. Về nội dung, bài thơ này so với bài "Các Anh" của Thâm Tâm trùng 8 câu đầu và 8 câu cuối, với hai điểm khác biệt là "cái tim cuối mùa" được chép thành "cái tin cuối mùa" và "Tâm tình lạnh nhạt đâu nghe" được chép thành "Tâm hồn lạnh nhạt đê mê". Vì vậy, có lẽ bài thơ này là do tác giả Anh Đào dựa vào bài "Các Anh" của Thâm Tâm rồi viết thêm 48 câu vào giữa để chứng minh cho bài báo của mình. (thivien.net)