Thứ Năm, 21 tháng 3, 2019

"SAY ĐI EM" - MỘT BÀI THƠ "TỚI BẾN"


                    


Tôi không nhớ đã “quen biết” bài thơ Say Đi Em của Vũ Hoàng Chương ở đâu và khi nào. Nhưng trong danh sách những bài thơ hay để giới thiệu với độc giả thì nó đứng đầu. Đọc để cảm thì sao cũng được – đó là “cái riêng” của mỗi người khi đọc thơ, những người khác ít ai dám xía vào. Nhưng bình thơ thì phải có khen chê - phải có một quan niệm về thơ để làm chỗ dựa cho sự khen chê đó. Mỗi lời khen, tiếng chê - ngoại trừ cái hay, dở của ngôn ngữ thơ - đều phải có lập luận để giải thích, và nếu bị phản bác, để bảo vệ nó.

Say Đi Em là bài thơ khó bình. Tôi đã “ngâm” nó trong kho từ vài năm trước. Mỗi lần mở ra đọc lại thấy ơn ớn. Chỗ mình muốn khen hết lời thì lại có một cây đại thụ về phê bình văn học (Vũ Ngọc Phan) (1) dè bỉu, chê bai. Một số điểm hay khác của bài thơ thì lại … quá lạ, không biết mình nêu lên có gây sóng gió, bão táp gì không?  

Nói vậy để độc giả thông cảm chứ tôi đã ăn ngủ với Say Đi Em cả mấy tháng nay rồi. Đã thuộc, đã nghiền ngẫm từng chữ nên khi viết lời bình cũng có đôi chút tự tin. Tuy nhiên, cái hay, cái đẹp (và cả cái dở) của thơ thì mênh mông như biển cả. Nếu bài viết này có gì sai sót, rất vui vẻ đón nhận mọi phê bình, góp ý.

SAY ĐI EM

1/

Khúc nhạc hồng êm ái
Điệu kèn biếc quay cuồng
Một trời phấn hương
Đôi người gió sương
Đầu xanh lận đận, cùng nhớ thương, càng xót thương...
Hoa xưa tươi, trăng xưa ngọt, gối xưa kề, tình nay sao héo?
Hồn ngả lâu rồi nhưng chân còn dẻo
Lòng trót nghiêng mà bước vẫn du dương
Lòng nghiêng tràn hết yêu thương
Bước chân còn nhịp Nghê Thường lẳng lơ

2/

Ánh đèn tha thướt
Lưng mềm não nuột dáng tơ
Hàng chân lả lướt
Đê mê hồn gửi cánh tay hờ
Âm ba gờn gợn nhỏ
Ánh sáng phai phai dần...
Bốn tường nghiêng điên đảo bóng giai nhân
Lui đôi vai, tiến đôi chân
Riết đôi tay, ngả đôi thân
Sàn gỗ trơn chập chờn như biển gió
Không biết nữa màu xanh hay sắc đỏ
Hãy thêm say, còn đó rượu chờ ta
Cổ chưa khô đầu chưa nặng mắt chưa hoa
Tay mềm mại bước còn chưa chuếnh choáng
Chưa cuối xứ Mê Ly chưa cùng trời Phóng Đãng
Còn chưa say hồn khát vẫn thèm men

3/

Say đi em! Say đi em!
Say cho lơi lả ánh đèn
Cho cung bậc ngả nghiêng, điên rồ xác thịt!
Rượu, rượu nữa! Và quên, quên hết!
Ta quá say rồi
Sắc ngả màu trôi...
Gian phòng không đứng vững
Có ai ghì hư ảnh sát kề môi
Chân rã rời
Quay cuồng chi được nữa
Gối mỏi gần rơi!
Trong men cháy giác quan vừa bén lửa
Say không còn biết chi đời

4/

Nhưng em ơi
Đất trời nghiêng ngửa
Mà trước mắt Thành Sầu chưa sụp đổ
Đất trời nghiêng ngửa
Thành Sầu không sụp đổ, em ơi!
(Vũ Hoàng Chương)

“Em” Trong Bài Thơ Là Ai?

Theo tôi, câu hỏi đó đã được trả lời một cách kín đáo ở đoạn đầu bài thơ.

Khúc nhạc hồng êm ái
Điệu kèn biếc quay cuồng
Một trời phấn hương

Tác giả nói đến vũ trường, nhạc dập dìu quanh các nàng ca ve son phấn.

Đôi người gió sương
Đầu xanh lận đận, cùng nhớ thương, càng xót thương
Hoa xưa tươi, trăng xưa đẹp, gối xưa kề, tình nay sao héo?

Gặp người quen, cũng là dân “sương gió”; nàng là gái nhảy, chàng là khách làng chơi mê khiêu vũ, xưa đã có một thời mặn nồng, sau đó vì “đầu xanh lận đận” nên nay tình đã héo. Cụm từ “gối xưa kề” đã bóng gió nói đến thời mặn nồng đó.

Hồn ngả lâu rồi nhưng chân còn dẻo
Lòng trót nghiêng mà bước vẫn du dương

Nay tình không còn mặn nồng nữa nhưng vẫn còn khoái món khiêu vũ. Cụm từ “Lòng trót nghiêng” hơi trừu tượng; vừa muốn giải thích lại vừa muốn đưa vào 2 câu lục bát cho ngọt dòng thơ nên ông viết tiếp:

Lòng nghiêng tràn hết yêu thương
Bước chân còn nhịp Nghê Thường lẳng lơ

Lòng đã hết thương nhưng chân còn mê nhảy.

Tóm lại, đoạn đầu có thể hiểu như sau; Vào vũ trường nhảy nhót, uống rượu giải sầu, lại gặp bạn “giang hồ” cũ. Dù tình đã hết cũng xáp lại để có đôi có cặp, để được đối ẩm, khiêu vũ với người “hợp gu”, “hợp rơ”.

Thành Sầu Của Vũ Hoàng Chương
Tập thơ Say của Vũ Hoàng Chương xuất bản năm 1940 – có nghĩa là bài thơ Say Đi Em được viết trước đó.
Nho học đã lụi tàn. Khoa thi Hương cuối cùng là khoa Mậu Ngọ (1918), tổ chức tại trường Thừa Thiên. Sau khoa thi Hương này, ngày 28/12/1918, vua Khải Định ra chỉ dụ bãi bỏ khoa cử ở Việt Nam. Khoa thi Hội và thi Đình cuối cùng được tổ chức năm 1919. Những người thi đỗ có bằng nhưng không được bổ nhiệm chức vụ gì. (2)

Cha mẹ VHC, cũng như rất nhiều bậc cha mẹ thuộc hàng quan lại, khá giả thời bấy giờ, ở vào thế tấn thối lưỡng nan. Một là, giữ lấy chút tiết tháo kiểu quân tử Tàu, thà để con lông bông chịu dốt chứ không thèm hợp tác với ngoại bang. Hai là, cho con theo Tây học để mở mang kiến thức, có cơ hội thăng tiến trong xã hội mới. Họ, hầu hết, đã chọn con đường thứ hai. Vũ Hoàng Chương nhờ thế, đỗ Tú Tài Pháp ban toán năm 21 tuổi (1937).
Năm 1938 ông vào Trường Luật nhưng chỉ được một năm thì bỏ, đi làm Phó Kiểm Soát Sở Hỏa Xa Đông Dương, phụ trách đoạn đường Vinh – Na Sầm (Wikipedia). (3)

Vào năm 1935, Hà Nội tuy sống dưới chế độ bảo hộ của thực dân Pháp nhưng có một bộ mặt rất thanh bình, vui vẻ, trẻ trung. Nhà cầm quyền đang cố tình dung túng các cuộc ăn chơi phóng túng để người ta quên đi biến cố đàn áp tàn bạo vừa qua (Năm 1930, Nguyễn Thái Học và mười hai liệt sĩ VN Quốc Dân Đảng khác phải lên đoạn đầu đài ở Yên Bái, sau đó là chiến dịch lùng sục bắt bớ ở nhiều nơi)đồng thời để ru ngủ thanh niên nên các trà đình, tửu điếm, các tiệm nhẩy đầm, các nhà hát ả đào (còn gọi là hát cô đầu) và các tiệm hút thuốc phiện mọc lên nhan nhản. Người ta đua nhau ăn diện, nhiều cậu công tử Hà Thành diện đúng mốt Paris, tay sách can đi bên cạnh các cô gái tân thời, phấp phới áo dài Lemur Nguyễn Cát Tường. (4)

VHC ngoài việc bắt buộc phải theo Tây học để tiến thân, còn cắn phải miếng mồi “ru ngủ” của người Pháp. Ông cũng lao vào những thú vui trác táng - rượu, thuốc phiện, nhảy đầm và cả gái nữa. Về điểm này, Trong Thi Nhân Việt Nam, Hoài Thanh đã có một đoạn khá đầy đủ:

Người say đủ thứ: Say rượu, say đàn, say ca, say tình đong đưa. Người lại còn "hơn" cổ nhân những thứ say mới nhập cảng: Say thuốc phiện, say nhảy đầm. Bấy nhiêu say sưa đều nuôi bằng một say sưa to hơn mọi say sưa khác: Say thơ. (3)

Như vậy, “thành sầu” của VHC là nỗi sầu đất nước bị ngoại bang đô hộ, dân tộc bị chúng làm tha hóa, băng hoại bằng đủ mọi âm mưu thâm độc. Trớ trêu thay, chính ông lại góp tay, giúp sức cho bộ máy cai trị ấy, chính ông lại lậm vào những cuộc chơi trác táng do chúng đặt ra, không những tự làm hỏng mình mà còn làm gương xấu cho lớp trẻ, rường cột của tương lai dân tộc. Ông cảm thấy tội lỗi, tủi nhục, uất ức và chất ngất buồn sầu. Là người có liêm sỉ, ông đã can đảm nói lên sự thật:

Lũ chúng ta lạc loài dăm bảy đứa
Bị quê hương ruồng bỏ giống nòi khinh
Bể vô tận xá gì phương hướng nữa
Thuyền ơi thuyền, theo gió hãy lênh đênh.
(Phương Xa)

Và thế là năm 1941, ông bỏ Sở Hỏa Xa đi học Cử nhân toán tại Hà Nội, rồi lại bỏ dở để đi dạy (tư) ở Hải Phòng (3).

Nỗi tủi nhục buồn sầu đó bắt rễ, ăn sâu rồi cao lớn như một bức tường thành sừng sững trong tâm hồn nhà thơ – đã trở thành điểm mấu chốt trong tứ thơ của thi phẩm Say Đi Em.

“Thành Sầu” Trong “Say Đi Em” Của Vũ Hoàng Chương Có Nỗi “Sầu Tình” Không?

Cha VHC là Vũ Thiện Thuật, một nhà nho bảo thủ, nghiêm khắc, làm Tri Huyện, muốn sau khi VHC học xong sẽ hỏi con gái một quan Bố Chánh, bạn thân của mình, cho ông. Ông không thích kiểu hôn nhân áp đặt nên không đồng ý và đã làm phật lòng cha. Vì thế khi ông yêu cầu đi hỏi Tố Uyển - người yêu của mình - về làm dâu trong gia đình thì cha ông đã từ chối thẳng thừng. (4)

Khoảng tháng 3 năm 1941 song thân của Tố Uyển mới nhận lễ vật dạm ngõ của nhà trai (anh Cử Cương) (4) và mãi đến ngày 12 tháng 6 năm Tân Tỵ (khoảng tháng 7 năm 1941) nàng mới lên xe hoa về nhà chồng. (6) Sau đây là một đoạn trong bài Mười Hai Tháng Sáu ông viết về mối tình tan vỡ của mình:

Tháng Sáu mười hai, từ đấy nhé
Chung đôi, từ đấy nhé lìa đôi.
Em xa lạ quá đâu còn phải
Tố của Hoàng xưa, Tố của Tôi.

Nỗi sầu thất tình của VHC xuất hiện sau năm tập thơ Say ra đời (1940) nên có thể nói chắc rằng nó không ăn nhập  gì đến “thành sầu” của thi sĩ trong bài thơ Say Đi Em.

Tứ Thơ

Trong một đêm đi nhảy ở vũ trường, gặp “bạn nhảy cũ”, tác giả mời nàng đối ẩm, có ý muốn mượn rượu để giải sầu, nhưng uống đến mức “say không còn biết chi đời” mà nỗi sầu vẫn sừng sững như một bức tường thành, không sụp đổ.

Bố Cục Và Dàn Ý

Bài thơ có thể chia làm 4 đoạn:

1/ Đoạn mở đầu 10 câu, thiết lập khung cảnh của bài thơ: Đến vũ trường, gặp người tình cũ đang là ca ve ở đấy. Tình đã héo nhưng chân còn “ngứa ngáy” nên xáp lại.

2/ Đoạn hai 16 câu: Cảm giác “Đê mê hồn gửi cánh tay hờ” khi đang dìu em trên sàn nhảy lúc rượu đã ngà ngà.

3/ Đoạn ba 13 câu: Mời em cùng uống cho đến khi “say không còn biết chi đời”.

4/ Đoạn kết 5 câu: Nỗi sầu vẫn còn đó - sừng sững như một bức tường thành, không sụp đổ.

Vũ Hoàng Chương viết Say Đi Em không theo lối kể chuyện lớp lang theo trình tự thời gian. Trong một lúc tĩnh lặng nào đó, ông hồi tưởng rồi trải lên trang giấy những hình ảnh, cảm giác, tâm trạng lưu lại trong ông ấn tượng mạnh mẽ nhất, sâu đậm nhất của một đêm đi nhảy, uống rượu ở vũ trường.

Vì thế, ở đoạn 2, có lẽ ông nói đến điệu nhảy sau cùng, nhịp điệu nhanh, tâm trạng phấn khích, hào hứng, có người còn liên tưởng đến những bước “fantaisie” của vũ điệu Tango (cũng điệu Tango 4 phách, chế ra những bước nhảy mới lạ - gọi tắt là nhảy “phăng”).  Trước khi vào đoạn 3 ông đã mấp mé ở ranh giới giữa “ngà ngà” và thật say. Cho nên nâng ly mời cô bạn nhảy “Say đi em! Say đi em!” thì chắc chỉ được vài ly là ông đã “Say không còn biết chi đời”.
Nhưng dù say đến thế nhưng nỗi sầu quá sâu đậm, vẫn như một bức tường thành, không sụp đổ.
                      
Vần Và Dòng Chảy Của Tứ Thơ

Về hình thức, tác giả sử dụng thể Thơ Mới, nhưng không phải lối thơ Trường Thiên (mỗi đoạn 4 câu) mà là thể thơ nhất khí liền mạch – một hơi từ câu đầu đến câu cuối. Nhưng cũng không phải như Nhớ Rừng của Thế Lữ - cứ 8 chữ một câu với vần liên tiếp, đọc lên nghe rất ngán. “Say Đi Em” rất phóng khoáng. Có đôi chỗ ngừng là do tác giả muốn chuyển ý, đổi vần chứ không phải do đòi hỏi của luật thơ. Ông cũng tạo ra một số thay đổi, vừa tránh được trói buộc của luật tắc, vừa có thể nhấn mạnh điểm chính của tứ thơ:

1/ Số câu trong bài không giới hạn, viết hết ý, hết hứng thì thôi.

2/ Số chữ trong câu thay đổi (với biên độ rộng) một cách tùy tiện, tùy hứng. Câu ngắn nhất 3 chữ (Chân rã rời), câu dài nhất 13 chữ (Hoa xưa tươi, trăng xưa đẹp, gối xưa kề, tình nay sao héo). Nhờ thế, nhịp điệu thơ thay đổi liên tục.

3/ Vần rất đậm, nhưng không có hội chứng nhàm chán vần, đọc lên không thấy ngán. Câu sau nối tiếp câu trước, tứ thơ và cảm xúc cứ thế tuôn chảy thành dòng. Lý do: Nhịp điệu thay đổi cộng với sự giúp sức của mấy đoạn gieo vần gián cách:

Ánh đèn tha thướt
Lưng mềm não nuột dáng tơ
Hàng chân lả lướt
Đê mê hồn gửi cánh tay hờ

Và:

Chân rã rời
Quay cuồng chi được nữa
Gối mỏi gần rơi!
Trong men cháy giác quan vừa bén lửa
Say không còn biết chi đời

Thêm vào đó, để thay đổi không khí, còn có hai câu thơ lục bát mượt mà ở đoạn đầu và sự phối hợp một cách tài tình điệp ngữ, điệp vận với vần ôm ở đoạn kết.

Ở thời điểm trước năm 1940 mà đã sử dụng vần phóng khoáng và điệu nghệ như vậy thì thật đáng nể phục.

Cũng xin nói đến một điểm nổi bật về kỹ thuật thơ của VHC là sự chuyển đoạn ăn khớp, khéo léo - từ ý này bước qua ý khác rất ngọt.

     a/ Đoạn 1 qua đoạn 2
Từ:

Lòng nghiêng tràn hết yêu thương
Bước chân còn nhịp Nghê Thường lẳng lơ.

qua:

Ánh đèn tha thướt
Lưng mềm não nuột dáng tơ
Hàng chân lả lướt
Đê mê hồn gửi cánh tay hờ.

Vừa nói “hết yêu nhưng còn mê nhảy” đã chuyển qua cảnh ôm em trên sàn nhảy. Sự kết nối thật tương hợp.

     b/ Đoạn 2 qua đoạn 3
Từ:

Còn chưa say, hồn khát vẫn thèm men

qua:

Say đi em! Say đi em!

Đều nói đến rượu, kết nối hợp lý.

     c/ Đoạn 3 qua đoạn 4
Từ:

Say không còn biết chi đời

qua:

Nhưng em ơi
Đất trời nghiêng ngửa

Vừa thú nhận “Say không còn biết chi đời” đã thấy “Đất trời nghiêng ngửa”. Mối liên hệ nhân quả, không một kẽ hở.

Nhờ sự chuyển đoạn khéo léo như vậy nên tứ thơ thông thoáng, bài thơ nhất khí liền mạch, cảm xúc lớn mạnh nhanh chóng.
                      

Điệp Vận Ở Phần Sau Đoạn 3 - Nói Về Cơn Say
                                                                                 
Ta quá say rồi
Sắc ngả màu trôi...
Gian phòng không đứng vững
Có ai ghì hư ảnh sát kề môi
Chân rã rời
Quay cuồng chi được nữa
Gối mỏi gần rơi!
Trong men cháy giác quan vừa bén lửa
Say không còn biết chi đời

Có 9 câu thơ ngắn mà đến 6 lần vần ôi (hoặc ơi) - điệp vận đến mức thoạt nhìn qua là đã mất cảm tình. Nhưng thật lạ! Đọc lên không những không thấy ngán mà còn thấy hồn mình như bị dính chặt vào ý thơ - cơn say thực sự, “say không còn biết chi đời” - của tác giả. Với cơn say ở đỉnh điểm như vậy, không còn chỗ cho lý trí và con đẻ của nó là sự dối trá, bám víu. Năm câu sau của đoạn kết đúng là tiếng lòng chân thật.

Điệp vận kiểu ấy, theo tôi, nếu là người làm thơ tỉnh táo, chắc là sẽ tránh xa. VHC, trong lúc lạc lần trí, đã hiên ngang bước vào “bãi mìn” ấy, nhưng nhờ thế, đã tạo được một đoạn thơ độc đáo, có giá trị như một con dấu chứng nhận sự chân thật cho đoạn kết, góp phần hết sức quan trọng vào sự thành công của thi phẩm Say Đi Em.

Đoạn Kết Tuyệt Vời

Sau khi đã uống đếnSay không còn biết chi đời” thi sĩ đã cho tuôn ra đoạn thơ:

Nhưng em ơi
Đất trời nghiêng ngửa
Mà trước mắt Thành Sầu chưa sụp đổ
Đất trời nghiêng ngửa
Thành Sầu không sụp đổ, em ơi!

Đoạn thơ hay cả về ngôn ngữ, thi ảnh, cấu trúc, âm điệu và nhịp điệu. Đặc biệt điệp ngữ ở hai cụm từ “em ơi” và “đất trời nghiêng ngửa” cho độc giả như tôi cái cảm giác đang nghe CODA của một bản nhạc, được viết rất khéo bởi một nhạc sĩ tài danh. Thành sầu của ông như đang chịu một trận động đất mạnh đến mức “đất trời nghiêng ngửa” mà vẫn “chưa sụp đổ” và đã chuyển từ chỗ “chưa sụp đổ” – còn chờ đợi, còn một chút hy vọng mong manh - đến chỗ “không sụp đổ” – nghĩa là đã hoàn toàn tuyệt vọng. Nỗi buồn sầu đã dâng lên đến đỉnh điểm. Chữ “không” ở câu cuối “đắt” như kim cương và ẩn dụ của cả đoạn thơ thật tuyệt vời.

Cảm Xúc Dâng Tràn - Hồn Thơ Lai Láng

Cảm xúc tầng 1: Theo tôi, VHC thành công trong việc trao tặng độc giả những cảm giác khoái trá ở tầng 1. Ngôn ngữ thơ của ông chắt lọc, trau chuốt, hình tượng đẹp một cách lộng lẫy, kiêu sa, câu thơ mạch lạc, trong sáng. Nói theo ngôn ngữ bóng đá, kỹ thuật cá nhân của các cầu thủ trong Say Đi Em điêu luyện, thuộc đẳng cấp cao, nhìn qua là thấy có cảm tình và nể phục.

Cảm xúc tầng 2:  Trong Say Đi Em thế trận chữ nghĩa được dàn trải hợp lý, tạo hiệu quả tối đa cho việc chuyển tải tứ thơ. Vần và nhịp điệu giúp dòng chảy của tứ thơ thông thoáng. Độc giả như được xem một trận bóng đá mà đội phe mình công thủ, lên xuống nhịp nhàng, đấu pháp toàn đội kín kẽ, hoàn hảo.

Cảm xúc tầng 3: Là thứ cảm xúc cao cấp nhất trong thơ - nếu đến mức dâng tràn, ta có hồn thơ. Để có hồn thơ bài thơ cần mấy điều kiện sau đây:

1/ Tứ thơ không phân mảnh đứt đoạn mà phải được dàn trải sao cho ý này nối tiếp ý kia, không ngừng nghỉ.

2/ Thể thơ phải như con kênh thông thoáng để khi câu chữ từ tứ thơ tuôn xuống có thể thành dòng thơ. Trong Say Đi Em, chỉ mới bước vào đầu đoạn 2 là men rượu đã ngấm, cảm xúc quyện lấy tứ thơ để cùng chảy một dòng.

3/ Thi sĩ phải nổi điên để cảm xúc sôi lên phủ mờ lý trí. Trường hợp Say Đi Em, bắt đầu vào đoạn 3 là lý trí đã trốn chạy khá xa, và đến giữa đoạn 3 thì hoàn toàn mất dạng. Cứ thế cho đến lúc thi sĩ “Say không còn biết chi đời”.

4/ Phải kết hợp để khi cảm xúc lên đến đỉnh điểm (cao trào) thì cũng là lúc thi sĩ tuôn ra điểm cốt yếu của tứ thơ. Đó sẽ là tiếng lòng chân thật của ngài. Ở Say Đi Em là đoạn 3 và đoạn 4.

Nếu thi sĩ cao hứng đến mức nổi điên mà điều kiện 1 và 2 không được thỏa mãn thì dù không có hồn thơ bài thơ cũng có chút ít cảm xúc tầng 3. Đây là thứ cảm xúc cho độc giả cảm giác khoan khoái đặc biệt hơn nhiều so với cảm xúc tầng 1 và 2.

Say Đi Em không những có đủ 4 điều kiện trên mà điều kiện nào cũng đạt đến mức hoàn hảo, hơn nữa, dòng chảy của tứ thơ nhanh và mạnh, nên có thể nói mà không sợ quá lời: Bài thơ có cảm xúc dâng tràn, hồn thơ lai láng. 

So sánh với Hồ Trường của Nguyễn Bá Trác - một bài thơ được nhiều người khen là “hào khí ngất trời” - cảm xúc của Say Đi Em mạnh hơn nhiều

Những Nét Chính Trong Nghệ Thuật Thơ Của “Say Đi Em”

Say Đi Em là bài thơ có độ dài bậc trung – 44 câu, 283 chữ, mỗi câu trung bình có 6,4 chữ. Nhưng chỉ với số chữ, số câu như thế tác giả đã đưa vào khá nhiều tuyệt chiêu thi ca. Để độc giả không bị phân tâm hoặc sa đà vào những tiểu tiết có tính “kỹ thuật cá nhân” (câu chữ) ở đây tôi chỉ nhắc đến tài thơ của thi sĩ về mặt thế trận và cảm xúc. “Kỹ thuật cá nhân” sẽ được ghi lại ở “Phần Đọc Thêm”

ƯU ĐIỂM:

1/ Vẫn còn vóc dáng, âm điệu của Thơ Mới nhưng có nhiều phá cách độc đáo.

2/ Tứ thơ đáng chú ý: Nỗi lòng phức tạp của tác giả – mặc cảm tội lỗi nhưng đáng thương, đáng kính trọng, đặc biệt là sự can đảm, dám nói lên sự thật.

3/ Bài thơ có tính nhạc cao, nhất là nhịp điệu. Thơ, nhạc, họa hòa quyện lấy nhau thành một khung cảnh vừa sống động, vừa lung linh mờ ảo.

4/ Sử dụng điệp vận nặng tay ở phần sau đọan 3 - cột chặt hồn người đọc vào ý thơ, vào dòng cảm xúc, làm nổi bật ý nghĩa của đoạn thơ.
“Ta quá say rồi … Say không còn biết chi đời”.

5/ Đoạn kết hoàn hảo, để lại ấn tượng sâu sắc.

6/ Vần rất đậm nhưng không có hội chứng nhàm chán vần, đọc lên nghe không ngán, không nhàm, không chán. Không bị đắp mô nên tứ thơ thông thoáng, chảy thành dòng; cảm xúc cũng chảy thành dòng, đưa tứ thơ lên đỉnh điểm, tạo được cao trào.

7/ Lý trí trốn biệt, lời thơ Thật (viết hoa), cảm xúc dạt dào, hồn thơ lai láng.

8/ Đạt được mục đích quan trọng nhất, cao cả nhất của thơ là cho thi sĩ với độc giả, người với người cơ hội được trao đổi tâm tình bằng Tiếng Người Chân Thật. Vũ Hoàng Chương – tác giả của Say Đi Em - xứng đáng có một vị trí danh dự trong Bến Bờ Thi Ca.

KHUYẾT ĐIỂM:

Trong 3 câu

Đôi người gió sương
Đầu xanh lận đận, cùng nhớ thương, càng xót thương...
Hoa xưa tươi, trăng xưa ngọt, gối xưa kề, tình nay sao héo?

Cụm từ “cùng nhớ thương” hơi “chõi” với “tình nay sao héo”. Hai người “cùng nhớ thương” thì sao tình lại héo?


Vũ Hoàng Chương Say Thật Hay “Tỉnh Như Sáo”

Nhà phê bình Thu Tứ dẫn lời của nhà phê bình Vũ Ngọc Phan về bài thơ Say Đi Em như sau:

Về tập Thơ say (1940) của Vũ Hoàng Chương, trong Nhà văn hiện đại Vũ Ngọc Phan viết “(tác giả) rất chú trọng đến sự gọt dũa lời thơ (...) Ðọc thơ ông người ta thấy ít cảm động (...) Người ta có cái cảm tưởng đó chỉ là những lời nhớ hão, thương hờ.” Riêng về bài sau đây (Say Đi Em), nhà phê bình nhận xét “cái say (của Vũ Hoàng Chương) là cái say phát ra ở điệu thơ, ở nghệ thuật của ông, hơn là ở những tính tình ông thổ lộ.”(1)

Và nhà phê bình Thu Tứ đưa ra cảm tưởng của mình:

Ðọc thơ ông Vũ này, rồi đọc lời bình thơ của ông Vũ kia, thấy phân vân. Có phải Vũ Hoàng Chương “nhớ hão, thương hờ”? Hay thực ra ông nhớ thật, thương thật, chỉ những lời quá trau chuốt của ông gây cảm tưởng kém chân thành?

“Ta quá say rồi”, nhưng lời thơ của ta cứ tỉnh như sáo, rắc rối hình như là ở đó...(1)



Mặc dù rất kính trọng kiến thức rất rộng của hai nhà phê bình Thu Tứ và Vũ Ngọc Phan về Văn Học, tôi không đồng ý với nhận định của hai ông về bài thơ Say Đi Em.

Trong số rất nhiều định nghĩa thơ tôi may mắn gặp được định nghĩa đề cập đến thời điểm thi sĩ cầm bút làm thơ của William Wordsworth:

"Poetry is the spontaneous overflow of powerful feelings: it takes its origin from emotion recollected in tranquility”. 
"Thơ là cm xúc mnh m t đng trào ra, khởi đi từ cảm xúc được hồi tưởng trong sự tĩnh lặng." (5)

Có nghĩa là, trái với suy nghĩ của nhiều người, tuyệt đại đa số thơ được sáng tác, không phải ngay lúc tác giả tiếp cận với cảnh thơ mà là sau đó một thời gian – dài ngắn tùy thi sĩ, tùy “độ lớn rộng” của đề tài, của tứ thơ và độ dài của bài thơ. Đó là thời gian ấp ủ, thai nghén tứ thơ. VHC viết Say Đi Em - một bài thơ bề thế (44 câu, 283 chữ) - không phải lúc say bí tỉ ở vũ trường mà là một lúc tĩnh lặng nào đó khi đã về nhà. Có thể sau đó vài ngày. Có thể vài tuần, vài tháng, và cũng có thể cả năm.

Từ một câu nói, một cảnh tượng hay một cái gì đó tình cờ khơi gợi, kỷ niệm xưa bùng cháy trong tâm khảm và thi sĩ ghi lại bằng sự hồi tưởng của mình.

Câu nói của Thu Tứ 
“’Ta quá say rồi’, nhưng lời thơ của ta cứ tỉnh như sáo, rắc rối hình như là ở đó...”

là nhận xét của một người chưa làm thơ, hoặc làm thơ mà chưa hiểu được, chưa thấy được, chưa ý thức được tiến trình làm thơ của mình.

Ta quá say rồi” không phải là lời của VHC lúc đang say rượu ở vũ trường mà là phát biểu của một VHC khác, ở một nơi khác, đang hồi tưởng, để ghi lại bằng thơ cái tâm trạng của anh chàng VHC say bí tỉ ở vũ trường hôm đó.

Khi thi sĩ cao hứng đến mức nổi điên, con chữ cứ liên tục trào ra ngòi bút. Lúc ấy, tính “xạo” của cái tôi văn hóa (và cái tôi teo chim, nếu có) sẽ biến mất; những gì viết ra sẽ là sản phẩm (không gian dối) của cái tôi đích thực. Tuy nhiên, lời thơ và cả thế trận chữ nghĩa – dù không có sự kiểm soát của lý trí - vẫn mang dáng dấp đẳng cấp của nhà thơ. Ngôn chữ trau chuốt, cao sang không vì thế mà chuyển thành bình thường, dân dã. Câu thơ gọn gàng, trong sáng không vì thế mà thành tối mù, khó hiểu.

Hơn nữa, khi tứ thơ đã dàn trải xong, thi sĩ có quyền quay lại - với sự hỗ trợ của lý trí - để điều chỉnh, sửa chữa, miễn là đừng “đắp mô” cản hoặc làm lệch dòng chảy của cảm xúc. 

Hồn thơ, tức là cái hơi nóng của cảm xúc tầng 3, không phải cứ mò mẫm, nắn bóp từng chữ, từng câu là “bắt” được nó. Cần phải có một tâm hồn nhạy bén, có thể “cảm” được “hận thù đằng đằng”, “đau thuơng chất ngất”, “hào khí ngất trời” … không phải từ con chữ, từ câu thơ, mà từ “giữa những hàng kẻ” để “lấy hồn ta hiểu hồn người” (Hoài Thanh).

Trong bóng đá, không phải lúc nào cầu thủ trên sân cũng tỉnh táo đi bóng, chuyền bóng, sút bóng theo đúng bài bản của huấn luyện viên đưa ra. Đôi khi tình huống xảy ra quá nhanh, không có thì giờ để suy nghĩ tính toán. Lúc ấy cầu thủ phải dựa vào sự nhạy bén, vào giác quan thứ 6 của mình để phản ứng, để chạy, để chuyền, để sút. Rất nhiều khi phản ứng ngẫu hứng như vậy lại sản sinh ra những đường chuyền “đẹp như mơ”, những cú đệm bóng nhẹ nhàng nhưng lại “bẻ gẫy lưng” thủ thành đối phương ghi bàn thắng. Nhiều cầu thủ xem lại khúc phim đá ngẫu hứng của mình cũng lắc đầu, le lưỡi, không hiểu sao mình có thể “tài tình” như thế được. Chính lúc cao hứng, nổi điên, chơi xuất thần, “phi bài bản” như vậy đã tạo nên nét đẹp đặc biệt của bóng đá, mới đưa bóng đá lên hàng nghệ thuật.

Trong Nhìn Từ Xa … Tổ Quốc, Nguyễn Duy – trong lúc cao hứng đến mức điên tiết – đã viết về những tệ hại của XHCN và con người Việt Nam đúng và thật quá, ngôn ngữ hình tượng mạnh mẽ, sinh động và táo bạo quá. Chính ông sau này cũng phải công nhận “khi viết xong thì chính bản thân tôi cũng bất ngờ bởi vì không nghĩ là mình viết được những câu thơ như vậy.”

Một ông thi sĩ Trung Quốc nào đó, nói về kinh nghiệm của mình trong việc uống rượu đã viết:

Dục phá thành sầu duy hữu tửu

Dịch sát nghĩa:

Chỉ có rượu mới phá được thành sầu.

Câu đó có thể đúng với rất nhiều nguời bầu bạn với Thần Men, nhưng với Vũ Hoàng Chương trong Say Đi Em thì có sự khác biệt; phải chăng là do nỗi sầu của ông quá sâu đậm? Khi đã đến đỉnh điểm của cơn say - “Say không còn biết chi đời” – thi sĩ họ Vũ đã thốt lên: 

Nhưng em ơi
Ðất trời nghiêng ngửa
Mà trước mắt thành sầu chưa sụp đổ
Ðất trời nghiêng ngửa
Thành sầu không sụp đổ, em ơi!

những lời mà theo tôi, hoàn toàn thoát khỏi sự kiềm tỏa của lý trí, và do đó, tuyệt đối không thể là những lời dối trá.

Hai nhà phê bình văn học tiếng tăm, đặc biệt là Vũ Ngọc Phan, mà không cảm được hồn thơ, không nhận ra được sự chân thật trong lời thơ, tứ thơ của Say Đi Em thì kể cũng lạ.


Kết Luận 

Vũ Hoàng Chương, bằng kỹ thuật thơ điêu luyện của mình, đã tạo được dòng chảy thông thoáng cho tứ thơ. Nhờ thế cảm xúc mạnh mẽ trong cơn say cũng chảy thành dòng, sóng sau dồn sóng trước. Khi cơn say lên đến đỉnh điểm, cảm xúc dâng lên cao ngất, cũng là lúc tứ thơ vừa chấm dứt – bài thơ kết thúc ở cao trào, hồn thơ lai láng. Với cảm xúc ở tầng 3 mạnh mẽ như thế, hồn thơ nóng bỏng như thế, lý trí đã bị phủ mờ. Lời thơ lúc ấy – trào ra qua một ngõ ngách nào đó từ vô thức – đích thị là tiếng lòng chân thật của thi sĩ. 

Trong bài thơ Say Đi Em, thi sĩ của chúng ta, nhờ thấm hơi men, đã có thể đưa lý trí của mình “đi chỗ khác chơi” để có một thi phẩm vừa chân thật vừa thấm đẫm hồn thơ. Ông đã làm được điều mà ngay cả những nhà thơ siêu thực – bỏ rất nhiều công sức để nghiên cứu, thử nghiệm, nhằm loại bỏ lý trí (để tìm lời thật) trong thơ – cũng chỉ thành công phần nào về mặt hình thức. Họ tuy tạo được những vần thơ “phi logic”, có “những va đập chói lòa của từ ngữ” (J. Vaché), có khả năng ngăn cản lý trí của người đọc bước vào bài thơ, nhưng đồng thời cũng chặt luôn cây cầu giao cảm giữa tác giả và độc giả (7).

Theo tôi, với bài thơ Say Đi Em, Vũ Hoàng Chương đã xứng đáng được mời vào ngồi một chỗ trang trọng trong Bến Bờ Thi Ca, nơi tụ hội những thi sĩ đã có tác phẩm mà qua đó, nhờ đó, thi sĩ với độc giả được cùng nhau trò chuyện bằng Tiếng Người Chân Thật.

Phạm Đức Nhì

CHÚ THÍCH:



1 / (Vũ Hoàng Chương, Thu Tứ, gocnhin.net)
2/ (Chi Tiết Thú Vị Về Khoa Thi Nho Học Cuối Cùng, Chí Đức, kienthuc.net.vn)
3/ (Vũ Hoàng Chương, Wikipedia.org)
4/ (Thiên Tình Sử Của Thi Sĩ Vũ Hoàng Chương - Phần 1, Phạm Thị Nhung, Cỏ Thơm)
5/ (William Wordsworth Quotes, Brainy Quote, brainyquote.com)
6/ (Thiên Tình Sử Của Thi Sĩ Vũ Hoàng Chương - Phần 2, Phạm Thị Nhung, Cỏ Thơm)
7/ Vài câu, đoạn thơ Siêu Thực:
     a/ Bông hoa này của núi rừng đã vàng đi như những giọt lệ của chúng ta (Shéhadé)
     b/ Dây trường xuân / thân thể tôi...
         Đảo / cái bụng của nó...
         (Char)
     c/ Trên cây cầu, vào cùng một giờ
         Cũng vậy hạt sương trên đầu con mèo cái đang tự dối mình.
         (Bréton)
      d/
          Lẵng xuân bờ giũ trái xuân sa 
          Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà 
          Nhài đàn rót nguyệt vú đôi thơm 
          Tỳ bà sương cũ đựng rừng xa 

          Buồn hưởng vườn người vai suối tươi 
          Ngàn mây tràng giang buồn muôn đời 
          Môi gợi mùa xưa ngực giữa thu
          Duyên vàng da lộng trái du ngươi 
          (Buồn Xưa, Nguyễn Xuân Sanh, thivien.net)

Phần Đọc Thêm

Nét Đẹp Kiêu Sa Của Ngôn Ngữ Thơ Trong “Say Đi Em”

Ở đây tôi xin tuyển chọn một số chỗ có ngôn ngữ thơ hay, đẹp để thay cho mục Ngôn Ngữ Thơ, lẽ ra phải có, trong bài bình thơ. Mục đích là để bài viết khỏi bị loãng vì những chi tiết chưa đến mức thật quan trọng. Mong những độc giả thích lối bình thơ bài bản thông cảm và lượng thứ.

1/

Hồn ngả lâu rồi nhưng chân còn dẻo
Lòng trót nghiêng mà bước vẫn du dương
Lòng nghiêng tràn hết yêu thương
Bước chân còn nhịp Nghê Thường lẳng lơ

Đoạn thơ này chứng tỏ tình của VHC đối với mấy cô ca ve là thứ tình hờ. Chỉ cần hồn ngả, lòng nghiêng là “yêu thương” trôi tuột mất một cách dễ dàng và nhẹ nhàng.
Tôi nhớ đến bài thơ Nghiêng của La Thụy. Nhà thơ, chủ trang web Bâng Khuâng, cho lòng chao nghiêng để hương mê lắng đọng

Chừ hoài niệm
Len lỏi ngoằn ngoèo trong ký ức
Tình xưa hẹn ước
.

Có “chông chênh” thì chỉ “rơi mất ánh trăng thề” chứ tình thì vẫn đầy ắp. Thi ảnh của Nghiêng đẹp hơn, nhưng VHC còn sử dụng 2 câu sau để làm cầu nối với đoạn kế tiếp, và đó là một mặt của tấm bản lề vừa khít. Cho nên xét về thơ thì có thể nói kẻ tám lạng người nửa cân. Còn nói về tâm hồn thì nhà thơ La thụy hiền lành và dễ thương hơn.

2/

Ánh đèn tha thướt
Lưng mềm não nuột dáng tơ
Hàng chân lả lướt
Đê mê hồn gởi cánh tay hờ

Ai khoái món khiêu vũ lại thường được nhảy với đào ruột của mình như Vũ Hoàng Chương sẽ dễ thấm, dễ cảm được cái hay của câu thơ “Đê mê hồn gởi cánh tay hờ” này.

3/

Say đi em! Say đi em!
Say cho lơi lả ánh đèn
Cho cung bậc ngả nghiêng, điên rồ xác thịt

Dùng những cụm từ “lơi lả ánh đèn”, “cung bậc ngả nghiêng” để nói về trạng thái say đã là xuất sắc rồi. Còn say cho “điên rồ xác thịt” thì quá tuyệt.

4/

Năm 1948, trong bài Đôi Bờ của Quang Dũng có 2 câu

Thoáng hin em v trong đáy cc
Nói cưi như chuyn mt đêm mưa

nói về hình ảnh, kỷ niệm xưa ẩn hiện “trong đáy cốc”, đẹp một cách hiền dịu.
VHC viết Say Đi Em trưc đó khong 10 năm cũng có câu

 Có ai ghì hư ảnh sát kề môi”

cũng diễn tả những ảnh hình ẩn hiện ở đáy ly rượu.

Hay, có lẽ cả hai đều hay, nhưng theo tôi, câu thơ của Quang Dũng còn hơi tỉnh (không đủ men say) còn câu thơ của VHC mạnh bạo hơn, cuồng nhiệt hơn.
(Nguồn: Quang Dũng - tác phẩm chọn lọc, NXB Trẻ, 1988)


5/ Chữ “không” ở câu cuối thật “đắt”

“Đất trời nghiêng ngửa
Mà trước mắt thành sầu chưa sụp đổ
Đất trời nghiêng ngửa
Thành sầu không sụp đổ, em ơi.

Xin được lập lại mấy lời về cái “đắt” của chữ “không” này.

Thành sầu của ông như đang chịu một trận động đất mạnh đến mức “đất trời nghiêng ngửa” mà vẫn “chưa sụp đổ” và đã chuyển từ chỗ “chưa sụp đổ” – còn chờ đợi, còn một chút hy vọng mong manh - đến chỗ “không sụp đổ” – nghĩa là đã hoàn toàn tuyệt vọng. Nỗi buồn sầu đã dâng lên đến đỉnh điểm. Chữ “không” ở câu cuối “đắt” như kim cương.

Trong lúc tra cứu để viết bài này tôi có nghe ca sĩ Anh Thư hát Say Đi Em, bài thơ của Vũ Hoàng Chương được Nguyễn Dũng phổ nhạc. Bản nhạc kết thúc ở câu “Đất trời nghiêng ngửa, đất trời nghiêng ngửa, mà thành sầu chưa sụp đổ, em ơi”. Nhạc sĩ Nguyễn Dũng – không biết vì lý do gì – đã bỏ câu “Thành sầu không sụp đổ”. Thật đáng tiếc, anh đã bỏ đi chữ hay nhất, câu thơ hay nhất của bài thơ.

Mời độc giả, nếu muốn, nghe bản nhạc ở link sau đây:

6/ Hai chữ “em ơi” ở câu đầu và câu cuối đoạn 4:

Nhưng em ơi
Ðất trời nghiêng ngửa
Mà trước mắt thành sầu chưa sụp đổ
Ðất trời nghiêng ngửa
Thành sầu không sụp đổ, em ơi!

Về ý nghĩa thì gần như dư thừa, chẳng đóng góp được gì, nhưng được đặt đúng chỗ và kết hợp với nhau một cách khéo léo đã tạo được âm vang tuyệt vời cho đoạn kết.








Thứ Hai, 14 tháng 1, 2019

NGHE VÀI CA SĨ HÁT "ĐỂ GIÓ CUỐN ĐI"


                                                 

Lời Nói Đầu


Trong thời gian viết bài Bàn Về Chữ “Buông” Của Trịnh Công Sơn Trong “Để Gió Cuốn Đi” (1), để có thể thấm và phần nào hiểu ý của nhạc sĩ, tôi đã vào Google nghe đi, nghe lại bản nhạc được nhiều ca sĩ khác nhau hát. Với bài viết ngắn này tôi không có ý định bàn đến sự hay dở của chất giọng cũng như khả năng thể hiện của ca sĩ mà chỉ bàn đến hai trường hợp thay đổi lời ca và vài trường hợp chọn cách kết thúc bản nhạc hơi khác thường. Mục đích để tìm hiểu xem là làm như vậy ca sĩ đã đến gần hay đi xa - thậm chí “đi lạc” – ý chính của bản nhạc.

Do chỉ chọn một số ca sĩ rất ngẫu nhiên khi gõ “để gió cuốn đi” trên Google, những ca sĩ khác, cũng ở vào trường hợp tương tự nhưng không được (bị) chọn là ngoài ý muốn của người viết.


Tóm Tắt Ý Của Bản Nhạc

Bản nhạc có thể chia làm 4 đoạn nói đến chữ “buông’ của trạng thái tâm con người.

     1/ Với “tấm lòng”: Hãy “để gió cuốn đi”. Nếu không, nó sẽ làm mờ mắt ta, trái tim ta sẽ thành “chiếc bóng” của nó “đi rao lời dối gian”

     2/ Với hạnh phúc (tiếng cười): Hãy để nước cuốn trôi.

     3/ Với khổ đau, bất hạnh: Hãy mở cửa trái tim để “con chim đau, mang vết thương sâu” bay đi.

     4/ Khi gió cuốn đi hết - cả “cái tôi” (bản ngã) của ta (“vắng bóng ai”) - ta sẽ vui sống, an lạc.

“Tấm lòng” là bản tâm, là toàn thể những gì chất chứa trong tim. Trong thực tế, gió không thể một lúc cuốn trôi “tấm lòng” đi được. Vì thế, TCS đã chia những gì chất chứa trong “tấm lòng” thành 2 loại - hạnh phúc và khổ đau. Khi tất cả những tiếng cười (hạnh phúc) được nước cuốn trôi, những “con chim đau, mang vết thương sâu” (khổ đau) vỗ cánh bay đi hết, “tấm lòng“sẽ hoàn toàn được gió cuốn đi. Lúc đó bản tâm chỉ là một khoảng không, “cái tôi” (bản ngã) đã “vắng bóng”

Với cách hiểu như thế, nghe các ca sĩ hát, tôi nổi hứng đưa ra mấy lời bàn. Đây chỉ là nhận xét cá nhân. Sẵn sàng đón nhận những ý kiến trái chiều, khác hướng.  


Ca Sĩ Thùy Chi Đổi Chữ “Tan” Thành “Vang”

Không biết vì lý do gì khi trình bày bản nhạc Để Gió Cuốn Đi nữ ca sĩ Thùy Chi (2) đã đổi chữ “tan” của nguyên bản trong câu hát “và tiếng hót tan trong trời gió lên” thành chữ “vang”.

Câu hát trên nằm trong đoạn nhạc nói về sự buông bỏ những nỗi khổ đau, được tác giả diễn tả bằng hình tượng “con chim đau mang vết thương sâu”.

Khi “con chim đau mang vết thương sâu” vỗ cánh bay khỏi trái tim, “và tiếng hót tan trong trời gió lên” - chữ “tan” cho độc giả cái cảm giác về sự buông bỏ hoàn toàn, không còn tơ vương gì đến những cay đắng, khổ đau nữa. Âm thanh từ tiếng hót của con chim và dĩ nhiên, cả bóng hình của nó, đã tan biến trong bầu trời, không còn một dấu tích gì.

Đổi “tan” thành “vang” thì trong câu “và tiếng hót vang trong trời gió lên” tiếng hót của con chim còn vọng lại, nghĩa là chưa tan biến hoàn toàn, sự buông bỏ chưa trọn vẹn.

Hát như thế, ca sĩ Thùy Chi - về mặt ý nghĩa- đã làm giảm cái hay, cái đẹp, cái sâu sắc của đoạn nhạc.


Ca sĩ Phạm Anh Khoa đổi “chiếc bóng” thành “đôi cánh”

Trong Chương Trình 12 Con Giáp Năm 2018 nam ca sĩ Phạm Anh Khoa (3) khi thể hiện nhạc phẩm Để Gió Cuốn Đi đã thay 2 chữ “chiếc bóng” từ nguyên bản thành “đôi cánh”.

Anh hát:

“Ôi! Trái tim đang bay theo thời gian
Làm ‘đôi cánh’ đi rao lời dối gian”

Câu hát đó thiếu tính logic. “Làm đôi cánh” thì “đôi cánh” chỉ có thể là phuơng tiện di chuyển chứ không thể “đi rao lời dối gian” được. Còn trong nguyên bản:

“Ôi! Trái tim đang bay theo thời gian
Làm ‘chiếc bóng’ đi rao lời dối gian”

thì nếu “tấm lòng” chưa được gió cuốn đi, trái tim sẽ làm “chiếc bóng” của nó - tức là “chiếc bóng” của ta, thay mặt ta đi loan truyền những điều tốt đẹp về ta, còn những điều xấu xa thì che giấu – nghĩa là “đi rao lời dối gian” giùm ta. Trường hợp ta dám và có thể để gió cuốn “tấm lòng” đi được thì “chiếc bóng” cũng không còn nữa. Bản ngã – tức là “hình bóng ai” trong ta biến mất, tâm của ta sẽ ở trạng thái vô ngã - chỉ có ở những vị tu hành đạt đạo.

Đây là chiếc cầu để dẫn độc giả đến - và có thể hiểu - cụm từ “vắng bóng ai” ở đoạn kết:

Hãy yêu ngày tới dù quá mệt kiếp người 
Còn cuộc đời ta cứ vui 
Dù vắng bóng ai, dù vắng bóng ai

Thay “chiếc bóng” bằng “đôi cánh” ca sĩ Phạm Anh Khoa không những làm câu hát mất tính logic mà còn chặt chiếc cầu liên tưởng, khiến độc giả chới với, dù có được giải thích, cũng khó vỡ nghĩa (make sense) được cụm từ “vắng bóng ai”.

(Theo link ở mục Chú Thích tôi đã nghe ca sĩ Phạm Anh Khoa hát Để Gió Cuốn Đi cả chục lần. Nhưng mới đây khi bấm vào link để check lại lần cuối thì phần trình bày của anh đã bị xóa)

Sau đây là vài cách kết thúc bản nhạc.


1/ Giữ Nguyên Lời Và Ý Của Tác Giả

Thông thường các ca sĩ kết thúc bằng cách lập lại (hoặc ngân dài) những chữ cuối, hoặc câu cuối của bản nhạc. Trong trường hợp Để Gió Cuốn Đi câu cuối sẽ là “dù vắng bóng ai”. Các ca sĩ Khánh Ly (4), Trường Thanh (5), Bé Hoàng Ngân (6) đã dùng cách kết thúc này - lập lại nhiều lần câu “dù vắng bóng ai”.

Đây là cách kết thúc an toàn nhất. Dù tác giả có vô ý hoặc “yếu cơ” để những chữ cuối hoặc câu cuối ở vị trí quá xa với ý chính của bản nhạc, hát lên nghe lạc lõng hoặc nhạt nhẽo, không lưu lại ấn tượng thì cũng không phải là lỗi của người hát.

Trong trường hợp Để Gió Cuốn Đi, khi “tấm lòng” được gió cuốn đi hết, tâm của con người sẽ ở trạng thái “không”, nghĩa là tuyệt đối vắng lặng, tuyệt đối thanh tịnh. Bản ngã, hay “cái tôi” sẽ “vắng bóng”. Cho nên ca sĩ kết thúc bản nhạc bằng cụm từ “Dù vắng bóng ai” là hợp lý, là đúng ý của tác giả.   

2/ Kết Thúc Bằng Câu “Để Gió Cuốn Đi”


Ca sĩ Quang Dũng (7) đã chọn cách kết thúc này.

Đây là cách kết thúc khác thường. Ca sĩ đã lấy tựa đề – cũng là câu hát quan trọng nhất, gói trọn ý của bản nhạc, coi như một CODA của riêng mình - để kết thúc. Theo tôi, so với cách kết thúc thường lệ ở trên, cách này hiệu quả hơn, để lại ấn tượng mạnh hơn.

3/ Kết Thúc Bằng Cả Đoạn

Ca sĩ Hồng Nhung (8) đã chọn đoạn quan trọng nhất, coi như một CODA để kết thúc.

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng. Để làm gì em biết không?
Để gió cuốn đi. Để gió cuốn đi.

Và lập lại:

Để gió cuốn đi. Để gió cuốn đi.

Cách kết thúc của Hồng Nhung – lý giải ý chính của bản nhạc một lần cuối - theo tôi, để lại ấn tượng mạnh hơn của Quang Dũng.

 4/ Cách Kết Thúc Hay Nhất

Thùy Chi (2) cũng kết thúc bằng đoạn của Hồng Nhung nhưng bỏ câu “Để làm gì em biết không?” Với tôi, câu “Để làm gì em biết không?”, về mặt ý nghĩa là một câu thừa, do cấu trúc của dòng nhạc phải đưa vào để lấp chỗ trống. Ca sĩ trẻ Thùy Chi đã “tinh” hơn Hồng Nhung, bỏ câu ca từ thừa thãi ấy đi, để chỉ còn:

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng.
Để gió cuốn đi.

Thùy Chi cũng bỏ bớt một câu “Để gió cuốn đi” (không lập lại), nhưng thay vào đó cô ngân dài để âm vang của câu ấy thấm vào lòng người nghe nhạc. CODA của Thùy Chi vừa gọn, vừa chắt lọc, vừa gói trọn ý của tác giả, để lại ấn tượng rất sâu sắc.

Theo tôi, đây là cách kết thúc hay nhất.

5/ Kết Thúc Bản Nhạc Bằng Ý Phụ  

Ca sĩ Hồ Quỳnh Hương (9) và hai ca sĩ song ca Hiền Thục, Đức Tuấn (10) có lẽ thích hình tượng “con chim đau mang vết thương sâu” nên đã lấy nửa sau của đoạn 3 để kết thúc bản nhạc.

“Trong trái tim con chim đau nằm yên 
Ngủ dài lâu mang theo vết thương sâu 
Một sớm mai chim bay đi triền miên 
Và tiếng hót tan trong trời gió lên” 

Độc giả coi lại phần Tóm Tắt Ý Của Bản Nhạc sẽ thấy đoạn 3 – con chim đau mang vết thương sâu - chỉ là một trong hai ý phụ của bản nhạc - hạnh phúc và khổ đau. Các ca sĩ Hồ Quỳnh Hương, Hiền Thục và Đức Tuấn lấy một trong hai ý phụ để kết thúc bản nhạc là đã hành xử không đúng đối với đoạn kết.

6/ Kết Thúc Sai Nhất, Dở Nhất

Don Hồ và Thanh Hà (11) lại kết thúc Để Gió Cuốn Đi bằng câu “Sống trong đời sống cần có một tấm lòng”. Đúng là theo Theo Trịnh Công Sơn thì “Sống trong đời sống cần có một tấm lòng”, nhưng điều quan trọng hơn là phải “Để gió cuốn đi”. Nếu chỉ biết o bế “tấm lòng” thì trái tim con người sẽ thành “chiếc bóng đi rao lời dối gian”. Hát như vậy, Don Hồ và Thanh Hà chưa “bắt’ được ý chính của bản nhạc.

Trong số những ca sĩ thể hiện Để Gió Cuốn Đi, cách kết thúc của Don Hồ và Thanh Hà sai nhất và dở nhất.

7/ Kết Thúc Bằng Thế Trận

Đây là cách kết thúc của nữ ca sĩ Thùy Dung (12). Chị lập lại cụm từ cuối của bản nhạc (dù vắng bóng ai) một lần nữa rồi hát lại lần lượt những cụm từ chính của mỗi đoạn (cùng âm và nhịp điệu):

Để buốt trái tim, rồi nước cuốn trôi, để gió cuốn đi

Với cách dàn quân như vậy người nghe sẽ dễ “bắt” được ý chính của toàn bài. Rất tiếc ở đây ta lại gặp khuyết điểm về thế trận của chính tác giả. Lẽ ra phải chọn cụm từ đồng nghĩa với “để chim bay đi” thì TCS lại đưa vào “để buốt trái tim” nên thế trận không đồng bộ, làm người nghe ngờ ngợ, thiếu tự tin vào cảm nhận của mình.

Dù sao cũng xin ghi nhận cách suy nghĩ đầy sáng tạo của Thùy Dung.

Kết Luận

Để Gió Cuốn Đi là bản nhạc có ca từ nặng chất suy niệm, với tới được chỗ sâu kín nhất của tâm hồn con người.
Chỉ riêng về tính tư tưởng, nó đã xứng đáng đứng riêng một góc trời để mọi người ngắm nghía, chiêm nghiệm.

Trịnh Công Sơn đã phạm một vài lỗi kỹ thuật. Trước hết, ông quá coi trọng nghĩa bóng, không chăm chút đúng mức cho phần nghĩa đen. Về thế trận thì cấu trúc của phần nhạc và phần ca từ không song song, đồng bộ gây khó khăn cho sự cảm nhận và nắm bắt ý chính của toàn bài.

Dù sao đi nữa, nó cũng là một bản nhạc hay. Bài viết Hiểu Đúng Nghĩa Câu Hát Của Trịnh Công Sơn Như Thế Nào? (13) của giáo sư Hoàng Đằng, với tôi, là cái “duyên” để bước vào một cuộc trao đổi văn học lý thú về một đề tài đậm nét nhân bản.

Xin cám ơn các ca sĩ – dù được khen hay bị chê – đã cho tôi cơ hội được góp mấy lời bình phẩm để làm rõ nghĩa hơn một ca khúc đôc đáo của Trịnh Công Sơn.

Nếu thấy bài viết có gì sai sót, xin độc giả, nhất là các bậc trưởng thượng, hạ cố cho ý kiến, phê bình, chỉ bảo. Hãy giúp cho chữ “buông” được sáng tỏ trước khi “Để Gió Cuốn Đi”.

Texas 7 tháng 1 năm 2019

Phạm Đức Nhì


CHÚ THÍCH:

1/

2/ Thùy Chi

3/ Phạm Anh Khoa

4/ Khánh Ly

5/ Trường Thanh

6/ Bé Hoàng Ngân - Nhật Ngân và các ca sĩ

7/ Quang Dũng,

8/ Hồng Nhung

9/ Hồ Quỳnh Hương 

 10/ Hiền Thục - Đức Tuấn   

11/ Don Ho - Thanh Hà

 12/ Thùy Dung

13/ Hoàng Đằng

PHỤ LỤC:

Sau đây là bình luận của một “Facebooker” và sau đó là trả lời của tôi. Thấy có liên quan đến ý chính của bản nhạc nên xin đưa vào phần Phụ Lục để độc giả tham khảo.

Facebooker X:

“Ý của mình thì có phấn giống với anh, đó là nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cũng nói về chữ Buông khi viết "... cần có một tấm lòng". Tấm lòng ở đây mình hiểu là Tâm, cái Tâm này nó không chứa sự vị tha, nó không chứa nhân ái, nó không có gì là cao thượng... Tâm này rỗng rang, nó chẳng vướng víu cái gì cả, Tâm không chấp cái tà ác, thế nên không có gì gọi là vị tha. Tâm không đo đếm mình đã cứu giúp bao nhiêu người, vậy nên chẳng chứa nhân ái. Tâm không có kẻ thù, vậy nên cũng không cần phải nghĩ đến sự cao thượng.

Phật khi xưa từng thuyết: ‘Diệc độ vô số chúng sanh, nhưng không có chúng sanh nào được diệc độ’.

Có thể mình diễn giải không suông lắm, nhưng tựu trung mình hiểu chữ Buông là như vậy.”

NhiPham trả lời:

“Cám ơn bạn X đã đưa ra sự khác biệt.

“’Tấm lòng’ tôi nói đến là ‘tấm lòng’ trước khi ‘để gió cuốn đi’. Lúc đó tùy môi trường, hoàn cảnh, căn cơ, mỗi người tự tạo cho mình một mẫu người, xây cho mình một tượng đài để vươn tới.

Tượng đài của con tôi khác tượng đài của con Donald Trump hoặc tượng đài của con Bố Già Victor Corleon. Theo tôi, đó cũng là ‘tấm lòng’ hay tượng đài Trịnh Công Sơn muốn nói đến.

‘Tấm lòng’ bạn X đưa ra là những gì còn lại trong tim (tâm) sau khi ‘tấm lòng’ đã ‘để gió cuốn đi’. Đó là trạng thái lý tưởng của tâm mà TCS chỉ ‘thấy’ và ‘nói đến’ chứ chưa trải nghiệm, chưa vươn tới được. Tôi cho rằng nhạc sĩ của chúng ta chỉ có lý, chưa có sự là như vậy.

Không phải cứ trải lòng ra rồi gật đầu là gió sẽ cuốn đi hết khổ đau, hạnh phúc, dục vọng của mình. Khó lắm bạn hiền ơi. Nếu bạn đã từng hành thiền, muốn xua đi một hình bóng cũ, một kỷ niệm xưa, một tâm sở bất thiện không phải dễ. Ngay cả những bậc tu hành, phải mất cả tháng, có khi cả vài tháng mới thành công. Mà trong tim ta đâu phải chỉ có một hình bóng cũ, một kỷ niệm xưa, một tâm sở bất thiện.

Cho nên nghe đoạn cuối của ca khúc Để Gió Cuốn Đi:

‘Hãy yêu ngày tới dù quá mệt kiếp người
Còn cuộc đời ta cứ vui
Dù vắng bóng ai, dù vắng bóng ai’

tôi biết ngay là TCS chỉ ‘thấy’, ‘nói’ chứ chưa làm. Tại sao? Vì người đã ‘buông’ tới mức mất hẳn hình bóng cái tôi của mình sẽ thanh thản, vui vẻ, hạnh phúc khi được sống kiếp người chứ không ai nói: 

‘Hãy yêu ngày tới DÙ QUÁ MỆT KIẾP NGƯỜI’ như vậy.

Cám ơn bạn X đã trao đổi với phong thái rất lịch sự.”