Thứ Tư, 23 tháng 9, 2020

VẦN NGANG CÂU BÁT TRONG TRUYỆN KIỀU

 

 

                            VẦN NGANG CÂU BÁT TRONG TRUYỆN KIỀU

 

                 

Mở Đầu Bằng Một Bài Thơ Đương Đại

 

ĐỜI

 

Đắng cay này gửi vào thơ
Để đêm chia bóng, ngày
chờ ước
Tằm ơi! Sao chẳng nhả

Cho ta vá lại hồn
thơ nát nhàu!
(Trần Trọng Giá, FB Lục Bát Việt Nam)

 

Đây là bài thơ mà câu bát của cặp đầu tiên có chữ thứ 6 và chữ thứ 8 ăn vần với nhau (vần ngang câu bát) (chờ mơ). Tôi không nghĩ là tác giả chủ ý tạo cặp vần này. Nó tuôn ra theo dòng chảy của tứ thơ và vì “không phạm luật” nên ngài không để ý. Rồi chữ “chờ” vần với chữ “thơ” ở câu lục trên, chữ “” vần với chữ “tơ” ở câu lục kế tiếp và dính líu, dây nhợ với chữ “thơ” ở câu bát dưới.

 

Hậu quả là độc giả phải nghe âm điệu của một chuỗi 5 chữ (thơ chờ mơ tơ thơ) từ 4 câu thơ liên tiếp trùng vần – mà lại toàn là chính vận mới đáng sợ. Vần quá ngọt. Có một tô chè mà nêm đến mấy lạng đường, ngọt lợ đến gắt cổ.

 

Thực tế hơi khó gặp những bài thơ, đoạn thơ như thế. Trong 4 hoặc 5 (1) cặp vần ở đó thường cũng có một hai cặp thông vận, và dĩ nhiên, độ ngọt của đoạn thơ cũng vì thế mà thay đổi.

 

Chắc chắn phải có một số “chỗ dựa”, dù chưa thành luật, để kết luận một đoạn thơ vừa độ ngọt hay đã có hội chứng nhàm chán vần. Nhưng cuối cùng - nếu câu trả lời không dứt khoát là “có” hay “không”- thì “gu”, khẩu vị của nhà phê bình hoặc người thưởng thức nghiêng về phía nào sẽ làm cho cán cân nghiêng về phía đó.

 

Bây giờ mời độc giả cùng tôi bước vào bài để tìm hiểu vần ngang câu bát trong Truyện Kiều.

 

 

Không Phải Vần Ngang Câu Bát Nào Cũng Gây Hội Chứng Nhàm Chán Vần

 

1/

 

Chúng ta thử đọc đoạn Kiều sau đây:

 

Cái điều bạc mệnh có chừa ai đâu?

Nỗi niềm tưởng đến mà đau

Thấy người nằm đó biết sau thế nào?

Quan rằng: Chị nói hay sao

Một điều là một vận vào khó nghe.

(Câu 108-112)

 

Trong đoạn Kiều trên, câu bát thứ 2 có cặp vần ngang thông vận (sau nào) nhưng nhờ “anh đường anh, tôi đường tôi” - từ chữ “sau” đi lên là vần “au”, từ chữ “nào” đi xuống là vần “ao” không có sự  kết hợp  nên đoạn thơ không bị quá ngọt, đọc rất trơn tru.

 

Mời độc giả xem lại bài thơ Đời của Trần Trọng Giá ở trên. Nếu chuỗi vần khởi đi từ chữ thứ 8 câu bát (mơ tơ thơ) “ăn vần chính vận” với chuỗi vần ngược lên từ chữ thứ 6 (chờ thơ) đoạn thơ chắc chắn có hội chứng nhàm chán vần. Nếu là thông vận gần thì có thể có, có thể không. Còn nếu chỉ là thông vận hoặc thông vận xa thì không đủ độ ngọt để tạo hội chứng nhàm chán vần.

 

2/

 

Đoạn này cũng giống đoạn trên, có cặp vần ngang câu bát thông vận (vàn ân).

 

Rảy xin giọt l cho người thác oan

Bây giờ trâm gẫy gương tan

Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân

Trăm nghìn gửi lại tình quân

Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi

(Câu 748-752)

 

Nhưng ở đây hai chuỗi vần cũng “đôi đường cách biệt” nên không có hội chứng nhàm chán vần.

 

3/

 

Đoạn trích kế tiếp có vần ngang câu bát là thông vận rất gần (nàng than).

 

Mấy lời nghe hết đã dư tỏ tường

Bao nhiêu đoạn khổ, tình thương

Nỗi ông vật vã, nỗi nàng thở than

Ngăn tôi đứng lại một bên

Chán tai rồi mới bước lên trên lầu

(Câu 1998-2002)

 

“Nàng” có bổn phận phải ăn vần trực tiếp với “thương” và dính líu gián tiếp với “tường” ở phía trên; “than” có bổn phận phải ăn vần trực tiếp với “bên” ở và dính líu gián tiếp với “lên” ở phía dưới.

 

Vì “nàng” với “thương, tường” là thông vận”, “than” với “bên, lên” cũng là thông vận nên hai lần thông vận đi hai hướng khác nhau đã hóa giải hội chứng nhàm chán vần. Đọc cả 5 câu thấy trơn tru, vừa ngọt, không nhàm chán chút nào.

 

Vùng Xôi Đậu

 

Có những đoạn thơ vật vờ ở giữa chứ không nằm hẳn ở bên này hay bên kia. Tôi chỉ đưa ra một vài nhận xét, còn kết luận thì tùy khẩu vị của độc giả.

 

1/

 

Đoạn sau đây có 2 câu bát vần ngang đều là thông vận (vương lòng, bồng mang).

 

Còn ra khi đã da mồi tóc sương

Tiếc thay chút nghĩa cũ càng

Dẫu lìa tơ ý còn vươnglòng!

Duyên em dù nối tơ hồng

May ra khi đã tay bồng tay mang

Tấc lòng cố quốc tha hương

Đường kia nỗi nọ ngổn ngang bời bời

(Câu 2240-2246)

 

Cả 7 câu nối kết với nhau bằng 8 cặp vần - 7 cặp thông vận và một cặp chính vận. Cặp chính vận (hồng bồng) lại nằm ở giữa nên bị âm vang của 7 cặp thông vận lấn át. Độ ngọt không nhiều nhưng có hai

câu bát vần ngang - lực lượng tạo vần đông hơn.

 

Cũng phải kể 2 nhóm 3 chữ “sương vương hương” và “càng mang ngang” là chính vận nhưng bị phân cách; âm vang muốn tìm đến nhau nhưng “xa mặt cách lòng”.

 

Độc giả nghĩ sao về độ ngọt của đoạn thơ này?

 

2/

 

Đoạn dưới đây có đến 2 câu bát có vần ngang đều là thông vận. Âm vang chính của đoạn này (có thể dẫn đến hội chứng nhàm chán vần) là 3 chữ vần “anh” – thanh, xanh, tanh – (“quanh” là vần “oanh”) bị các âm khác chen vào chia rẽ nên độ ngọt loãng đi.

 

Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh

Nao nao dòng nước uốn quanh

Nhịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang

Sè sè nấm đất bên đàng

Dàu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh

Rằng: "Sao trong tiết thanh minh

Mà đây hương khói vắng tanh thế mà?"

(Câu 54-60)

 

Theo tôi, chữ “minh” là cứu tinh (về vần) của đoạn thơ. Nếu thay “minh” bằng một chữ vần “anh” thì hội chứng nhàm chán vần chắc chắn sẽ xuất hiện.

 

3/

 

Chưa xong điều nghĩ đã dào mạch sương.

Ngoài song thỏ thẻ oanh vàng

Nách tường bông liễu bay ngang trước mành.

Hiên tà gác bóng chênh chênh

Nỗi riêng, riêng trạnh tấc riêng một mình

Cho hay là thói hữu tình

Đố ai dứt mối tơ mành cho xong.

(Câu 238-244)

 

Hai cặp vần ngang câu bát đều là thông vận mà lại là thông vận xa. Tùy “gu” độc giả.

 

4/

 

Tường đông ong bướm đi về mặc ai

Ngày xuân con én đưa thoi

Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi

Cỏ non xanh tận chân trời

Cành lê trắng điểm một vài bông hoa

(Câu 38-42)

 

Cả 5 cặp vần (ai thoi, thoi ngoài, ngoài mươi, mươi trời, trời vài) đều là thông vận nhưng đọc lên vẫn thấy hơi ngọt. Không biết độc giả nghĩ sao?

 

5/

 

Mời độc giả cùng tôi đọc đoạn thơ:

 

Phải điều lòng lại dối lòng mà chơi!

Mai sau ở chẳng như lời

Trên đầu có bóng mặt trời rạng soi

Thấy lời quyết đoán hẳn hoi

Đành lòng, nàng cũng sẽ nguôi nguôi dần.

(Câu 1028-1032)

 

Đây là đoạn thơ mà độ ngọt nằm sát ranh giới. Âm vang chính là 3 chữ vần “ơi” (chơi, lời, trời) tạo thành 2 cặp chính vận “chơi lời” và “lời trời” bị 3 chữ “oi, hoi, nguôi”  tạo thành 2 cặp vần “soi hoi, hoi nguôi” là thông vận của vần “ơi” làm loãng đi.

 

Và như thế, độ ngọt của vần ở mức độ nào? Đã xuất hiện hội chứng nhàm chán vần chưa? Không có câu trả lời dứt khoát nên tôi xếp nó vào “vùng xôi đậu” để độc giả góp ý thẩm định.

 

6/

 

Đoạn kế tiếp khác với đoạn trên ở chỗ nằm sát ranh giới nhưng nghiêng một chút về phía “nhiều ngọt”.

 

Đàn bà thế ấy thấy âu một người

Ấy mới gan ấy mới tài

Nghĩ càng thêm nỗi sởn gai rụng rời!

Người đâu sâu sắc nước đời

Mà chàng Thúc phải ra người bó tay!

(Câu 2004-2008)

 

Tôi cho rằng chữ “Người” ở đầu câu thứ 4 – dù không nằm ở vị trí gieo vần – đã làm tăng độ ngọt của đoạn thơ. Xin nhường cho độc giả thẩm định.

 

7/

 

Đoạn sau đây có đến 3 câu bát có vần ngang nhưng toàn là thông vận.

 

Giấm chua lại tội bằng ba lửa nồng

ở trên còn có nhà thung

Lượng trên trông xuống biết lòngthương?

Sá chi liễu ngõ hoa tường?

Lầu xanh lại bỏ ra phường lầu xanh

Lại càng dơ dáng dại hình

Đành thân phận thiếp ngại danh giá chàng

Thương sao cho vẹn thì thương

Tính sao cho trọn mọi đường xin vâng

(Câu 1352-1360)

 

Âm vang chính của đoạn này là 5 chữ vần “ương” – thương, tường, phường, thương, đường. Quân số như vậy là khá đông để tạo hội chứng nhàm chán vần. Nhưng 3 chữ đầu và 2 chữ sau cách nhau quá xa nên âm vang kết nối bị loãng dần. Tuy nhiên, độ ngọt “tích tiểu thành đại”cũng đủ đưa chúng về “vùng xôi đậu” để độc giả cùng thẩm định.

 

 

Tạo Vần Ngang Câu Bát Có Chủ Ý?

 

Đây là đoạn Thúy Kiều sỉ vả Sở Khanh.

 

Bước vào, vừa rắp thị hùng ra tay

Nàng rằng: Trời nhé có hay!

Quyến anh, rủ yến, sự này tại ai?

Đem người dẩy xuống giếng khơi

Nói rồi, rồi lại ăn lời được ngay!

Còn tiên Tích Việt ở tay

Rõ ràng mặt ấy, mặt này chứ ai?

Lời ngay, đông mặt trong ngoài

Kẻ chê bất nghĩa, người cười vô lương!

(Câu 1178-1186)

 

Trong 3 câu bát có vần ngang thì 2 câu có 2 nhóm chữ gần như điệp ngữ để nhấn mạnh, chỉ thẳng vào mặt của Sở Khanh:

 

“Sự này tại ai?

“Mặt này chứ ai?

 

Và một câu vạch trần tính đểu giả của hắn:

 

“Nói rồi, rồi lại ăn lời được ngay

 

Thúy Kiều được một dịp chửi cho hả lòng hả dạ - chửi như tát nước vào mặt kẻ bất lương đã lừa dối mình. Đổi lại cụ Nguyễn đã phải phóng ra 9 câu lục bát, 11 cặp vần cù cưa, cù nhầy. Tuy có đến 7 cặp thông vận nhưng hội chứng nhàm chán vần cũng khá nặng.

 

Theo tôi, trong cuộc đổi chác này cụ Nguyễn không lỗ nhưng cũng chẳng được lời bao nhiêu.

 

 

Những Đoạn Có Hội Chứng Nhàm Chán Vần Rõ Nét

 

1/

 

Sông Tiền đường đó ấy mồ hồng nhan!

Thương ôi! Không hợp mà tan

Một nhà vinh hiển riêng oan một nàng!

Chiêu hồn thiết vị lễ thường

Giải oan lập một đàn tràng bên sông.

(Câu 2964-2968)

 

Ba cặp vần “nhan tan, tan oan, oan nàng ” đã khá “ngọt”, lại thêm chữ “tràng” ở câu bát cuối khiến đoạn thơ bắt đầu ầu ơ, chán ngán; rồi còn hai chữ “oan”, “đàn” (câu bát cuối) tuy không ở vị trí gieo vần nhưng âm vang của chúng cũng đóng góp chút ít vị ngọt. Cuối cùng, anh chàng “hội chứng nhàm chán vần” đã ung dung bước vào.

 

2/

 

Tìm đâu thì cũng biết tin rõ ràng.

Sắm sanh lễ vật rước sang

Xin tìm cho thấy mặt nàng hỏi han

Đạo nhân phục trước tĩnh đàn

Xuất thần giây phút chưa tàn nén hương.

Trở về minh bạch nói tường:

Mặt nàng chẳng thấy việc nàng đã tra.

(Câu 1686-1692)

 

Đoạn này có 2 câu bát vần ngang. Chỉ cần đọc 5 câu đầu đã thấy ngán vì quá ngọt. Thêm hai chữ “nàng” ở câu bát cuối (một chữ ở vị trí không gieo vần) hội chứng nhàm chán vần càng nặng thêm. 

 

3/

 

Đinh ninh hai mặt một lời song song

Tóc tơ căn vặn tấc lòng

Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương .

Chén hà sánh giọng quỳnh tương

Dải là hương lộn bình gương bóng lồng

Sinh rằng: Gió mát trăng trong

Bấy lâu nay một chút lòng chưa cam

(Câu 450-456)

 

Đoạn này cũng có 2 câu bát vần ngang. Thủ phạm tạo nên hội chứng nhàm chán vần chính là âm vang của 4 cặp vần “song long, lòng đồng, lồng trong, trong lòng).

 

4/

 

Chàng Vương cũng cải nhậm thành Duy Dương

Sắm xanh xe ngựa vội vàng

Hai nhà cùng thuận một đường phó quan

Xảy nghe thế giặc đã tan

Sóng êm Phúc Kiến lửa tàn Chiết Giang

Được tin Kim mới rủ Vương

Tiện đường cùng lại tìm nàng sau xưa

(Câu 2950-2956)

 

Trước hết, bốn chữ “quan, tan, tàn, Giang” tạo nên 3 cặp vần liên tiếp có độ ngọt cao (quan tan, tan tàn, tàn Giang), chữ “vàng” và chữ “nàng” cộng vào làm độ ngọt tăng thêm một bậc; rồi 5 chữ vần “ương” (Vương Dương đường Vương đường), tuy là thông vận, nhưng âm vang cũng đóng góp ít nhiều vị ngọt nữa. Kết quả là hội chứng nhàm chán vần khá rõ nét.

 

5/

 

Thừa cơ nàng mới bàn ra nói vào.

Rằng: Trong Thánh Trạch dồi dào

Tưới ra đã khắp thấm vào đã sâu

Bình Thành công đức bấy lâu

Ai ai cũng đội trên đầu biết bao

Ngẫm từ gây việc binh đao

Đống xương Vô Định đã cao bằng đầu.

Làm chi để tiếng về sau

Nghìn năm ai có khen đâu Hoàng Sào

Sao bằng lộc trọng quyền cao

Công danh ai dứt lối nào cho qua?

(Câu 2488- 2498)

 

Đoạn này có đến 4 câu bát vần ngang. Hết “ao âu” lại quay về “âu ao”, quanh đi quẩn lại đến mấy lần. Vần ngang câu bát kết hợp với vần quẩn tạo nên 9 chữ vần “ao”, 5 chữ vần “âu” - toàn là chính vận -  khiến hôi chứng nhàm chán vần quá nặng.

 

 

Đọc đi đọc lại Truyện Kiều tôi đã ghi nhận được 36 đoạn có vần ngang câu bát. Đoạn ngắn nhất 5 câu, đoạn dài nhất 11 câu. Tôi chọn lựa đưa vào bài viết 16 đoạn. Những đoạn còn lại thì vì trùng lặp hoặc vì một vài lý do kỹ thuật khác tôi không đưa vào bài viết nhưng cũng liệt kê dưới đây cho độc giả tham khảo.

 

38-42, 54-60, 64-68, 108-112, 134-138, 234-238, 238-244, 450-456, 476-480, 710-716, 748-752, 926-930, 992-996, 1002-1006, 1006-1010, 1028-1032, 1178-1186, 1268- 1274, 1330-1334, 1352-1360, 1552-1556, 1656-1660, 1686-1692, 1714-1718, 1998-2002, 2004-2008, 2014-2018, 2120-2124, 2240-2246, 2456-2460, 2488-2498, 2540-2544, 2722-2726, 2950-2956, 2964-2968, 3208-3212.

 

Màu đỏ là những đoạn đưa vào bài viết.

Màu đen là những đoạn để độc giả tham khảo.

 

Ngoài ra còn hơn một chục đoạn khác cũng có vần ngang câu bát nhưng lại là thông vận (hoặc thông vận xa) mà hai chiều lên xuống lại không trùng chính vận – nghĩa là chẳng thể nào tạo được hội chứng nhàm chán vần – tôi cũng ghi xuống một khoảnh riêng dưới đây để bài viết được đầy đủ.

 

Những đoạn có vần ngang câu bát nhưng không thể tạo hội chứng nhàm chán vần:

 

Câu 8-12, 172-176, 470-474, 1090-1094, 1096-1100, 1118-1122, 1172-1176, 1336-1342, 1442-1446, 1760-1764, 1846-1850, 1942-1946, 2280-2284, 2346-2350, 2594-2598, 2714-2718, 3060-3064.

 

Kết Luận

 

Trong 1627 câu bát củaTruyện Kiều không có câu nào có vần ngang chính vận như bài Đời của thi sĩ Trần Trọng Giá. Tuy nhiên, cũng có không ít những đoạn thơ có “vần ngang câu bát” mà dây nhợ tạo nên đủ mọi cung bậc cho độ ngọt của thơ khiến những người đọc thơ bình thương dễ bối rối, hoang mang.

 

Hy vọng bài “phân tích kỹ thuật” này sẽ giúp độc giả hiểu thêm về thi pháp của Nguyễn Du trong Truyện Kiều - ở đây là phần Vần Ngang Câu Bát.

 

Xin hẹn độc giả ở mấy bài viết sau nữa.

 

 

Phạm Đức Nhì

nhidpham@gmail.com

phamnhibinhtho.blogspot.com

 

CHÚ THÍCH:

 

1/ Bài Đời của Trần Trọng Giá chỉ có câu và 4 cặp vần. Nhưng nếu là một đoạn 5 câu có vần ngang câu bát (trong một bài thơ dài hơn) thì sẽ có 5 cặp vần.

Thứ Hai, 14 tháng 9, 2020

VÀI NHẬN XÉT VỀ LUẬT VÀ VẦN TRONG TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYỄN DU

 

Lời Nói Đầu

 

Nhận xét về vần luật trong Truyện Kiều dễ dẫn đến tranh luận. Mà đề tài tranh luận ngoài chuyện đúng sai có tính học thuật cũng thường khi liên quan đến độ khả tín của văn bản cũng như uy tín của người khảo dị và hiệu đính. Bài viết này dựa vào 2 bản nôm Truyện Kiều Liễu Văn Đường (Kiều 1866 và Kiều 1871) được ông Nguyễn Quảng Tuân phiên âm và khảo dị. Ông Nguyễn Quảng Tuân cũng kết hợp với 3 bản nôm khác - Kiều 1870, Kiều 1872 và Kiều 1902 - để cho độc giả một “dụng cụ” tra cúu rất tiện lợi, có thể so sánh từng câu giữa 5 bản Kiều”.

 

Ngoài ra ông cũng có trong tay bản Kiều 1874 do Đàm Quang Hưng sưu tầm nhưng chưa kết hợp với 5 bản Kiều trên.

 

Sau đây là danh sách 6 bản nôm Truyện Kiều được làm tư liệu.

(http://www.nomfoundation.org/nom-project/tale-of-kieu/tale-of-kieu-version-1866?uiLang=vn)

 

Kiều 1866
Bản Liễu Văn Ðường—Nghệ An
Nguyễn Quảng Tuân—Phiên âm - khảo dị
Nxb Văn học & Trung tâm Nghiên cứu Quốc học (2004)

 

Kiều 1870
Bản Kinh đời Tự Ðức
Nguyễn Quảng Tuân—Phiên âm - khảo dị
Nxb Văn học & Trung tâm Nghiên cứu Quốc học (2003)

 

Kiều 1871
Bản Liễu Văn Ðường
Nguyễn Quảng Tuân—Phiên âm - khảo dị
Nxb Văn học & Trung tâm Nghiên cứu Quốc học (2002)

 

Kiều 1872
Tư liệu Truyện Kiều: Bản Duy Minh Thị
Nguyễn Tài Cẩn (Moskva)
Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội (2002)

 

Kiều 1874
Tăng Hữu Ứng chép tay: Tự Ðức Giáp Tuất
Ðàm Quang Hưng sưu tầm, Huế
Bs Nguyễn Huy Hùng—Texas, Mỹ (2002)

 

Kiều 1902
Bản Kiều Oánh Mậu
Sưu tầm, khảo chú & chế bản Nôm: Nguyễn Thế & Phan Anh Dũng
Hiệu đính chữ Nôm: Nhà giáo Ưu tú Nguyễn Đình Thảng.
Nxb Thuận Hoá — Huế 2004

 

 

 

Tóm Tắt Luật Bằng Trắc Của Lục Bát Chính Thống

 

Mời độc giả đọc đoạn thơ lục bát dưới đây:

 

Hôm qua chồng em về nhà

Dòm lui dòm tới rồi ra ngoài đường

Dáng đứng thểu não đáng thương

Muốn gọi, chợt nghĩ đến chàng lại thôi

 

Cặp lục bát đầu có 3 chữ đen in đậm (chữ thứ 6 câu lục, chữ thứ 6 và chữ thứ 8 câu bát) vần bằng và chữ đỏ in đậm (chữ thứ 4 câu bát) vần trắc. Mười chữ còn lại đều là vần bằng.

 

Cặp lục bát thứ hai cũng có 3 chữ đen in đậm (chữ thứ 6 câu lục, chữ thứ 6 và chữ thứ 8 câu bát) vần bằng và chữ đỏ in đậm (chữ thứ 4 câu bát) vần trắc. Mười chữ còn lại đều là vần trắc.

 

Chữ thứ 6 câu bát (ra) thanh ngang thì chữ thứ 8 câu bát (đường) thanh huyền.

Chữ thứ 6 câu bát (chàng) thanh huyền thì chữ thứ 8 câu bát (thôi) thanh ngang

 

Chúng ta có thể rút ra kết luận ngắn gọn rằng: Để làm thơ lục bát đúng luật chỉ cần:

 

1/ Chữ thứ 6 câu lục, chữ thứ 6 và chữ thứ 8 câu bát vần bằng; chữ thứ 4 câu bát vần trắc. Mười chữ còn lại bằng trắc tự do.

 

2/ Chữ thứ 6 câu bát thanh ngang thì chữ thứ 8 thanh bằng và ngược lại.

 

Luật Bằng Trắc Trong Truyện Kiều.

 

Sau khi đã đọc kỹ từng câu trong 3254 câu của Truyện Kiều tôi nhận thấy tác phẩm được viết theo thể lục bát chính thống:

 

1/ Chữ thứ 4 của 1627 câu bát đều vần trắc.

2/ Chữ thứ 6 của 1627 câu lục đều vần bằng.

3/ Chữ thứ 6 và chữ thứ 8 của 1627 câu bát đều vần bằng.

4/ Trong cả 1627 câu bát, nếu chữ thứ 6 thanh ngang thì chữ thứ 8 thanh bằng và ngược lại.

 

Nên có thể nói chắc rằng: Truyện Kiều tuân thủ luật bằng trắc rất nghiêm chỉnh.

 

Nhưng với vần thì lại là chyện khác. Trong thơ lục bát có 4 điểm cần lưu ý khi nhận xét về vần là lạc vận, vần nguyên chữ, “vần ngang câu bát”vần quẩn (trở lại vần cũ chỉ sau một lần chuyển vận). Lạc vận được giới phê bình và thưởng thức thơ cho là lỗi – mà là lỗi nặng về kỹ thuật thơ. Còn vần nguyên chữ, “vần ngang câu bát” và vần quẩn chỉ được xem là sự “không khéo” của tác giả.

 

Trong bài này tôi chỉ bàn về lạc vận và vần nguyên chữ. “Vần ngang câu bát” và vần quẩn sẽ đề cập đến ở bài sau.

 

Truyện Kiều Có Câu Nào Lạc Vận Không?

 

Lạc vận là một lỗi nặng trong thơ lục bát. Với thơ lục bát đương đại, một câu lạc vận là cả bài thơ “xấu mặt”. Đọc đi đọc lại Truyện Kiều tôi thấy có một câu lạc vận và một nhóm 3 câu đặt ra một dấu chấm hỏi khá lớn.

 

Một vùng cỏ áy bóng

Gió hiu hiu thổi một vài bông lau

(Câu 97 – 98)

 

“Tà” và “vài” lạc vận.

 

Nhận định này của tôi (trong một bài viết khác) – do nguồn trích dẫn từ một văn bản chữ Việt - đã gặp sự phê phán của bác Vũ Nho (chủ trang web Vũ Nho Ninh Bình). Trong bài viết này tôi đã “mượn” dụng cụ của ông Nguyễn Quảng Tuân - so sánh từng dòng giữa các bản Kiều (chữ Nôm):

 

Câu

Bản

Bản Văn

98

Kiều 1866

󰊄囂囂𠺙𢽼𦰟𦰤
Gió hiu hiu thổi một vài ngọn lau.

98

Kiều 1870

𩙍囂囂𠺙󰜋𬏓𦰟𦰤
Gió hiu hiu thổi một và ngọn lau.

98

Kiều 1871

󰊄囂囂𠺙𢽼𦰟𦰤
Gió hiu hiu thổi một vài ngọn lau.

98

Kiều 1872

𩙌囂囂𠺙𠬠𬏓𦰟𦰤
Gió hiu hiu thổi một và NGỌN lau.

98

Kiều 1902

𫗄休休𠺙󰜋𢽼𦰤
Gió hiu hiu thổi một và(i) bông lau

 

Trong bản Kiều 1902 hàng chữ Nôm viết là 𢽼 (vài) nhưng hàng chữ “quốc ngữ” ở dưới viết (lầm?) là “và”

 

Trong 5 bản Nôm của Truyện Kiều có đến 3 bản viết là “vài” - trong đó có bản cổ nhất 1986 (1). Thêm vào đó, đa số bản tiếng Việt trên Net cũng viết như vậy nên dù có ý kiến trái chiều, tôi vẫn nghiêng về phía chữ “vài” – nghĩa là cho rằng đây là 2 câu lạc vận.   

 

Hơn nữa, đây đó trong Truyện Kiều có một số câu - ý tương tự - cũng viết là “vài”:

 

Cỏ non xanh tận chân trời,

Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.

(Câu 41-42)

 

Đã không kẻ đoái người hoài,

Sẵn đây ta kiếm một vài nén hương.

(Câu 91-92)

 

Thú quê thuần hức bén mùi,

Giếng vàng đã rụng một vài lá ngô.

(Câu 1593- 1594)

 

Lời quê chắp nhặt dông dài,

Mua vui cũng được một vài trống canh.

(Câu 3253-3254)

 

Ngoài ra, nói đến lạc vận, còn có 3 câu khác cũng khiến tôi băn khoăn:

 

 

Lệnh quan lại bắt ép duyên thổ tù.

Nàng đà gieo ngọc trầm châu

Sông Tiền Đường đó ấy mồ hồng nhan

(Câu 2962 đến 2964)

 

1/

 

Châu” và “mồ” có lạc vận không?

 

Âu – âu: Chính vận

Âu – au: Thông vận gần

Âu – ao: Thông vận

Âu – êu: Thông vận

Âu – eo: Thông vận xa

Âu – yêu: Thông vận xa

Âu – iu: Cưỡng vận

Âu – ô: Lạc vận

Âu – u: Lạc vận (sửa lại là thông vận xa)

 

Dựa vào bảng “vần gần, vần xa” do chính mình tự lập để “đo” độ ngọt của vần tôi cho rằng “châu” và “mồ” lạc vận.

 

2/

 

Còn “châu” và “” thì sao?

 

Theo bảng xếp hạng (dựa vào mặt chữ) thì “châu” và “tù” lạc vận nhưng nó làm tôi nhớ tới mấy câu thơ trong Tiết Phụ Ngâm của Trương Tịch

 

Quân tri thiếp hữu phu

Tặng thiếp song minh châu

Cảm quân triền miên ý

Hệ tại hồng la nhu

 

Một thầy giáo dạy Việt Văn cho biết là trong chữ Hán chữ “châu” cũng có thể được phát âm là “chu” nên ở đoạn thơ trên câu “Tặng thiếp song minh châu” không bị lạc vận. Nhưng Truyện Kiều viết bằng chữ Nôm nên tôi nghĩ việc phát âm “châu” thành “chu” chắc là không có. Tuy nhiên, khi phát âm vần “âu” (“â” ghép với “u”) âm vang của chữ “u” (trong “âu”) vẫn có dù rất nhẹ.


 Hai anh Phú Đỗ và Lạc Nguyên góp ý cho rằng "âu" với "u" là thông vận. Tôi không đồng ý hoàn toàn nhưng nhận ra rằng xếp "âu" với "u" là cưỡng vận thì chưa đúng lắm. Và tôi đã đưa hai câu:


Lệnh quan lại bắt ép duyên thổ tù.

Nàng đà gieo ngọc trầm châu


lên hàng thông vận xa.


(Xin cám ơn hai anh Phú Đỗ và Lạc Nguyên)



Ngoài ra còn có một cặp lục bát khác:

 

Sượng sùng đánh dạn ra chào

Lạy thôi, nàng mới rỉ tai ân cần

 

trong đó “chào” với “tai” lạc vận rõ ràng, không phải bàn cãi. Có đến 4 bản Kiều tiếng Việt (2) viết là “tai” nên tôi đã mạnh dạn lấy làm thí dụ (về lạc vận) trong một bài viết khác. Sau này đối chiếu với 5 bản Kiều chữ Nôm tôi mới thấy là mình sai; không phải sai về lập luận mà sai về nguồn trích dẫn có độ khả tín quá thấp.

 

Đối chiếu với 5 bản Kiều chữ Nôm:

 

 

Câu

Bản

Bản Văn

1096

Kiều 1866

𥛉催娘買𠯇𢭂殷勤
Lạy thôi nàng mới rỉ trao ân cần.

1096

Kiều 1870

𥛉催娘買𠯇𢭂殷勤
Lạy thôi nàng mới rỉ trao ân cần.

1096

Kiều 1871

𥛉催娘買𠯇𢭂殷勤
Lạy thôi nàng mới rỉ trao ân cần.

1096

Kiều 1872

段催娘買𠯇𢭂慇懃
ĐOẠN thôi nàng mới rỉ trao ân cần.

1096

Kiều 1902

𥛉催娘買𠯇𢭂殷勤
Lạy thôi nàng mới rỉ trao ân cần

 

Như vậy đúng ra phải viết là:

 

Sượng sùng đánh dạn ra chào

Lạy thôi, nàng mới rỉ trao ân cần

(Câu 1095-1096)

 

Đây không phải là 2 câu lạc vận.

 

Riêng điểm này tôi phải công nhận bác Vũ Nho đúng, tôi sai. Xin cám ơn bác Vũ Nho đã chỉ điểm.

 

Tóm lại, trong 3254 câu của Truyện Kiều có 2 cặp lạc vận.

 

 

Nhận Xét Về Vần Nguyên Chữ Trong “Truyện Kiều”

 

Chúng ta thử đọc đoạn thơ dưới đây:

 

KHÔNG LÀ GIẤC MƠ

……………………..

Yêu nhau thì phải nồng say

Trọn đời suốt kiếp không thay đổi lòng

Cũng không một dạ hai lòng

Đồng cam cộng khổ vợ chồng bên nhau

……………………

Nguyễn Thanh Phong, FB Lục Bát Việt Nam)

 

Thi sĩ Nguyễn Thanh Phong đã gieo vần “nguyên chữ” (lòng lòng) – hai chữ giống nhau như đúc. Gieo vần như vậy không sai luật nhưng nghe có “cái gì đó” không thuận tai.

 

Tôi tưởng nhận xét như vậy là do cách thưởng thức thơ khó tính của mình, nhưng đọc chú thích của ông Nguyễn Quảng Tuân (phần dưới) thì thấy rằng các cụ xưa cũng dị ứng với vần nguyên chữ như tôi.

 

So sánh hai câu 3089 và 3090 giữa các bản Kiều:

 

Câu

Bản

Bản Văn

3089

Kiều 1866

緣箕固負之情
Duyên kia có phụ chi tình,

3089

Kiều 1870

緣箕固負之命
Duyên kia có phụ chi mình,

3089

Kiều 1871

緣箕固負之情
Duyên kia có phụ chi tình,

3089

Kiều 1872

緣箕固負之𠇮
“Duyên kia có phụ chi MÌNH,

3089

Kiều 1902

緣箕固負之命
Duyên kia có phụ chi mình

 

Top of Form

 

Câu

Bản

Bản Văn

3090

Kiều 1866

麻算支挭鍾情爫𠄩
Mà toan chia gánh chung tình làm hai?"

3090

Kiều 1870

𦓡筭技梗鍾情爫𠄩
Mà toan chia gánh chung tình làm hai?”

3090

Kiều 1871

麻算支挭鍾情爫𠄩
Mà toan chia gánh chung tình làm hai?”

3090

Kiều 1872

麻筭支梗鍾情爫𠄩
"Mà toan chia gánh chung tình làm hai?"

3090

Kiều 1902

麻算𢫟挭鍾情爫𠄩
Mà toan sẻ gánh chung tình làm hai”.

Bottom of Form

 

Thí dụ như câu “Duyên kia có phụ chi tình” (Liễu Vân Đường) thì ông Nguyễn Quảng Tuân chú thích như sau:

 

Hai bản Liễu Vân Đường (1866 & 1871) và Quan Văn Đường (1874) (bản 1874 không nằm trong 5 bản đối chiếu) đều khắc là “tình”. Sở dĩ có sự sửa chữa chữ “tình” ra chữ “mình” là để tránh trùng vần với câu dưới cũng có chữ “tình”. Nhưng chữ “mình” đây có thể hiểu là “chúng mình” và câu thơ cũng rõ nghĩa.

 

Vì thế, sau khi tra cứu kỹ, tôi đã không đưa 2 câu 3089 và 3090 vào danh sách các câu thơ “vần nguyên chữ” mà ông Nguyễn Quảng Tuân gọi là “trùng vần”. (2)

 

Sử dụng phương cách này tôi đã bỏ bớt mấy cặp có độ khả tín thấp khác trong một số bản chữ Việt trên Internet.

 

Như vậy, cả các cụ xưa và những người thưởng thức thơ đương đại (trong đó có tôi) phần đông cho rằng tạo vần nguyên chữ trong thơ lục bát là “không khéo”, là vụng - ngoại trừ trường hợp thật đặc biệt.

 

Theo sự sàng lọc của tôi (đối chiếu 5 bản Kiều chữ Nôm) Truyện Kiều có 8 cặp lục bát vần nguyên chữ, xin được liệt kê dưới đây. (Thay vì một cặp tôi trích cả 4 câu, mở rộng ngữ cảnh của đoạn thơ cho độc giả có chỗ dựa để nhận định xem cái hay về ý tứ và nghệ thuật của đoạn thơ có bù được cái vụng của cặp vần nguyên chữ hay không?) 

 

 

1/

 

Vân rằng: Chị cũng nực cười

Khéo dư nước mắt khóc người đời xưa.

Rằng: Hồng nhan tự thuở xưa

Cái điều bạc mệnh có chừa ai đâu?

(105 đến 108)

 

2/

 

Lượng xuân dù quyết hẹp hòi

Công đeo đuổi chẳng thiệt thòi lắm ru?

Lặng nghe lời nói như ru

Chiều xuân dễ khiến nét thu ngại ngùng

(345 đến 348)

 

3/

 

Nước trôi hoa rụng đã yên

Hay đâu địa ngục ở miền nhân gian

Khuyển ưng đã đắt mưu gian

Vực nàng đưa xuống để an dưới thuyền

(1705 đến 1708)

 

4/

 

Thấy nàng mặt phấn tươi son,

Mừng thầm được mối bán buôn có lời

Hư không đặt để nên lời

Nàng đà nhớn nhác rụng rời lắm phen

(2089 đến 2092)

 

5/

 

Tin vào gởi trước trung quân

Từ công riêng hãy mười phân hồ đồ

Một tay gây dựng cơ đồ

Bấy lâu bể Sở sông Ngô tung hoành!

(2461 đến 2464)

 

6/

 

Giác Duyên nghe nói mừng lòng,

Lân la tìm thú bên sông Tiền Đường

Đánh tranh chụm nóc thảo đường

Một gian nước biếc mây vàng chia đôi

(2695 đến 2698)

 

7/

 

Thẩn thờ lúc tỉnh lúc mê

Máu theo nước mắt hồn lìa chiêm bao

Xuân huyên lo sợ biết bao

Quá ra khi đến thế nào mà hay

(2835 đến 2838)

 

8/

 

Khúc đâu êm ái xuân tình

Ấy hồn Thục Đế hay mình Đỗ Quyên?

Trong sao châu nhỏ duềnh quyên

Ấm sao hạt ngọc Lam điền mới đông!

(3201 đến 3204)

(Duềnh quyên: Vũng nước trong sáng đẹp hoặc có ánh răng soi.)

 

Trước khi tìm hiểu trong 8 cặp vần nguyên chữ của Truyện Kiều thì những cặp nào là vụng, không khéo và những cặp nào là “phá lệ” của cụ Nguyễn để thực hiện một chức năng thẩm mỹ, tôi viết vài hàng làm chỗ dựa để lý giải.

 

Chỗ Dựa Để Lý Giải

 

Một chữ, một nhóm chữ, một câu hay một đoạn trong bài thơ đều có ít nhất một chức năng: Chức năng truyền thông. Chúng kết hợp với nhau cung cấp thông tin cần thiết để độc giả có thể “bắt” được, hiểu được những suy nghĩ, tâm tình mà thi sĩ muốn chia sẻ.

 

Nếu thi sĩ chọn một thể thơ nào đó – trong bài này thi sĩ chọn thể thơ lục bát – thì ngoài những nguyên tắc văn phạm, mỗi chữ, nhóm chữ, câu, đoạn còn phải tuân thủ những quy định về luật (bằng trắc) và vần của thể thơ này.

 

Thêm vào đó còn có những điều chưa thành luật, chưa thành quy định, nhưng nếu thi sĩ “không khéo” mắc phải sẽ tạo thành hội chứng nhàm chán vần, giảm giá trị của bài thơ. Tôi muốn nói đến “vần nguyên chữ”, “vần ngang câu bát” và “vần quẩn”.

 

Một chức năng khác thường được nói đến trong thơ là chức năng thẩm mỹ. Mỗi chữ, nhóm chữ, câu, đoạn được tác giả giúp tự trang điểm hoặc cùng với các chữ, nhóm chữ, câu hay đoạn khác (trong cùng bài thơ) phối hợp với nhau “làm đẹp” – để độc giả ngoài cái “sướng” “bắt” được, hiểu được suy nghĩ, tâm tình của tác giả còn được thưởng thức nét đẹp văn chương của bài thơ.

 

Nếu tác giả không phải vô tình (hoặc “kẹt”) mà tự ý phá luật, bỏ vần hoặc chấp nhận vướng vào một chỗ “không khéo” nào đó thì thường là muốn bộc lộ một cái gì đó lạ, hay hoặc độc đáo hơn.

 

Trong 8 cặp vần nguyên chữ của Truyện Kiều thì cặp đầu tiên

 

Vân rằng: Chị cũng nực cười

Khéo dư nước mắt khóc người đời xưa.

Rằng: Hồng nhan tự thuở xưa

Cái điều bạc mệnh có chừa ai đâu?

(105 đến 108)

 

Thúy Kiều nhắc lại chữ “xưa” để Thúy Vân thấy câu trả lời của mình (Kiều) “đúng điểm”, xác đáng. “Lý do thật đặc biệt” ở đây là: Chữ “xưa” ấy “bất khả thay thế” và làm tăng giá trị nghệ thuật của đoạn thơ.

 

Cái hay ở đây không những bù được cái vụng mà còn có lời nữa.

 

Còn 7 cặp vần nguyên chữ khác từ số 2 đến số 8 (ru ru, gian gian, lời lời, đồ đồ, Đường đường, bao bao, Quyên quyên) chỉ cung cấp thông tin để độc giả hiểu ý, không có chức năng thẩm mỹ đặc biệt. Cụ Nguyễn Du, trong 7 cặp lục bát này, đã vướng vào chỗ “không khéo”, chịu thiệt về mặt kỹ thuật thơ mà chẳng kiếm chác được tí gì ở phần chức năng thẩm mỹ.

 

Thật đáng tiếc!

 

 

Hết Phần I

 

 

Phạm Đức Nhì

nhidpham@gmail.com

 

 

CHÚ THÍCH:

 

 

1/

 Những trang web viết “rỉ tai”

 

https://sites.google.com/site/khonggianketnoidqt/truyen-kieu-tron-bo

https://download.vn/truyen-kieu-44606

https://thinhphapam.com/truyen-kieu-nguyen-du/5/

https://hoavouu.com/images/file/DsgIQGAx0QgQALg_/tuyenkieu.pdf

 

2/

 Tôi tránh dùng nhóm chữ “trùng vần” vì sợ hiều lầm là nhiều cặp vần liên tiếp trong một đoạn thơ. (Không là vần nguyên chữ nhưng các cặp đều cùng một vần).