Thứ Ba, 6 tháng 11, 2018

"SỐNG" VÀ "ĐÀN ÔNG" CÓ PHẢI LÀ THƠ?


                               
Có những bài thơ phần đầu chỉ là những câu dọn cảnh, cái tôi riêng tư của tác giả còn ở đâu đó, chưa thấy bóng dáng trong cảnh thơ. Nhưng rồi thật bất ngờ, đến tận cuối bài, cái tôi riêng tư đột nhiên xuất hiện, và ngay cùng lúc đó, cảm xúc cũng tuôn trào. Tôi “sáng tác” bài Đàn Bà dưới đây để “xem chim” hai “bài thơ” (Đàn Ông và Sống) của Nguyễn Đức Tùng. Dĩ nhiên ở đây kỹ thuật thơ được coi trọng – cho tác phẩm đủ điều kiện để có danh hiệu Thơ. Còn những tiêu chí khác mong bạn đọc bỏ qua nếu “dở”


ĐÀN BÀ 

Có hai loại đàn bà 
loại chính chuyên chung thủy với chồng 

Loại không lấy chồng
suốt đời đến với đàn ông 
chỉ để thỏa mãn nhu cầu xác thịt 
tìm vui trong chốc lát.

Sáu câu trên chỉ là cách nhìn của tác giả về đàn bà, đến từ bề mặt ý thức, chưa phải là thơ. Nhưng chỉ cần thêm câu sau đây:

Tôi thích loại đàn bà thứ hai 

thì đã có cảm xúc, tình đã xuất hiện, cả bài đã trở thành thơ. Câu “Tôi thích loại đàn bà thứ hai” vừa có nhiệm vụ đưa cái tôi riêng tư của tác giả vào cảnh thơ vừa có nhiệm vụ sinh tình. 

ĐÀN ÔNG

Một số người luôn đến đúng giờ
Một số người thường xuyên lỡ hẹn
Một số người mở vết thương ra
Một số người khâu nó lại
Một số người thả chùm cỏ dại
Một số người đặt viên kim cương
Một số người không làm gì cả
Khi em đi qua
Lần thứ ba khẽ chạm vào tay

Nguyễn Đức Tùng

Đối với bài Đàn Ông thì 6 câu đầu là 6 loại người đàn ông mà tác giả đã moi từ trong đầu ra để giới thiệu với độc giả. Ngôn ngữ dễ hiểu vì đơn giản đến độ khô cứng, không đem đến một chút cảm xúc nào. Chúng, rất rõ ràng, là sản phẩm của lý trí. Độc giả, chắc cũng giống tôi, hy vọng anh sẽ dành cảm xúc của mình dồn hết vào 3 câu cuối. Nhà thơ của chúng ta hay làm như vậy để tạo bất ngờ và ấn tượng mạnh mẽ cho những bài thơ của mình. Và trong một số trường hợp, anh đã thành công.

Tuy nhiên, đọc kỹ 3 câu cuối:

“Một số người không làm gì cả
Khi em đi qua
Lần thứ ba khẽ chạm vào tay”

thì thấy ý quả có cái gì đó lạ lạ. Sao lại có những người (đàn ông) mà “đến ba lần em đi qua chạm khẽ vào tay mà họ vẫn lặng yên, không làm gì cả?” Nhưng bên cạnh cái “ý lạ lạ” ấy tôi còn thấy một điểm lạ nữa. Tác giả đã tạo ra khung cảnh dị thường của “bài thơ” nhưng tâm của ông (cái tôi riêng tư) vẫn không xuất hiện, không bước vào khung cảnh đó để có cảm xúc mà sinh tình. Thật ra, 3 câu cuối chỉ là loại đàn ông thứ 7.

Tóm lại, cả bài 9 câu ông cho lý trí đạo diễn hoàn toàn, tuyệt nhiên không có một tý ti cảm xúc. Nếu so sánh với Đàn Bà thì Đàn Ông của Nguyễn Đức Tùng vẫn thiếu câu thơ sinh tình nên không phải là thơ.



               SỐNG

Sống là yêu một người đàn bà
Trong tay đàn ông khác
Kẻ giữ nàng rất lâu
Như đứa bé hồng hào kháu khỉnh
Lúc nàng cựa mình thoát ra
Thì anh đã già

Sống là trở lại căn nhà
Mẹ cha mọi người đi vắng
Anh gõ cửa hàng xóm chiều mưa
Xin chút lửa
Đem về nhà
Làm quen với người chồng thứ ba của người yêu cũ
(Nguyễn Đức Tùng)

“Sống” có thể được chia làm 2 đoạn, mỗi đoạn 6 câu, là một cách nhìn rất khác thường của tác giả đối với động từ “sống” của người đời.   
Trong mỗi đoạn NĐT vẽ ra một cảnh đời rất “trái khoáy”. Có điều anh vẽ ra cảnh đời ấy bằng lý trí, còn tâm hồn anh vẫn trốn đâu đó ở một góc rất kín trong đầu, không lộ diện.

Mười hai câu trong bài Sống của NĐT giống 6 câu đầu trong Đàn Bà. Đàn Bà có câu thơ sinh tình nên là thơ; Sống không có câu thơ sinh tình nên chỉ là sản phẩm của lý trí – không phải là thơ.

Nguyễn Đức Tùng còn vài bài nữa đi lạc khỏi vườn thơ nhưng Sống và Đàn Ông dễ giải thích nhất nên tôi chọn để phân tích nguyên nhân đi lạc. Hy vọng anh Tùng và bạn đọc nhận ra để tìm cách cho thơ đi đúng đường.




Thứ Bảy, 3 tháng 11, 2018

CÓ NÊN SỬA THƠ NGƯỜI KHÁC


Một Câu Chuyện Sửa Thơ Của Độc Giả

Sau khi bài viết Thuyền Và Biển: Ngọt Bùi Cay Đắng Của Tình Yêu lên đường được mấy ngày tôi nhận được vài thư góp ý trong đó thư của anh Phan Hồng Ngọc từ Sài Gòn đã gây cho tôi sự chú tâm đặc biệt. Nội dung thư như sau:

Thưa ông Phạm Đức Nhì,

Trong bài Thuyền Và Biển: Ngọt Bùi Cay Đắng Của Tình Yêu ông viết:

 Phép ẩn dụ của bài thơ, nếu tinh ý, người đọc có thể nhận ra sau khi đọc 2 đoạn đầu. Còn nếu “chậm tiêu” một tý thì từ từ rồi cũng thấy, cũng hiểu. Thuyền là chàng, biển là nàng, bài thơ là chuyện tình yêu của chàng với nàng, nàng là tác giả, là nhân vật chính trong bài thơ. Trong đoạn thơ:

Những đêm trăng hiền từ
Biển như cô gái nhỏ
Thầm thì gởi tâm tư
Bên mạn thuyền sóng vỗ

thì biển là cô gái (ẩn dụ) cho nên câu “Biển như cô gái nhỏ” không những đã trở nên thừa, gây cảm giác “không thoải mái” cho người đọc mà lại còn làm lộ phép ẩn dụ nữa. Nếu tác giả chọn được cách nói khác, không nhắc gì đến cô gái mà vẫn diễn tả được cái ý ấy thì hay hơn.

Tương tự như vậy, trong đoạn thơ:

Cũng có khi vô cớ
Biển ào ạt xô thuyền
(Vì tình yêu muôn thuở
Có bao giờ đứng yên!)

Tác giả quên rằng mình đang đóng vai Biển với thân hình và bộ mặt (đã hóa trang) của Biển. Ngôn ngữ rất riêng, rất lạ của Biển và Thuyền đang thu hút sự chú ý của độc giả. Tự nhiên buột miệng nói ra “tiếng người” khiến vai diễn của vở kịch trở thành bất nhất. Hai câu sau nếu tránh được từ “tình yêu” mà vẫn giữ được ý ấy thì quá hay.

Theo gợi ý của ông tôi đã lò mò mấy ngày mới nghĩ ra được cách tránh mấy từ mà ông đã cẩn thận cho in chữ đậm ở 2 đoạn thơ trên. Và đây là 2 đoạn thơ có bàn tay sửa chữa của tôi:

Những đêm trăng hiền từ
Biển thầm thì to nhỏ
Những điều rất riêng tư
Bên mạn thuyền sóng vỗ.

Cũng có khi vô cớ
Biển ào ạt xô thuyền
Nên thuyền trên mặt biển
Có bao giờ được yên!

 Xin ông - dưới con mắt của một người bình thơ – cho biết ý kiến. Chân thành cảm ơn ông trước.

Ký tên Phan Hồng Ngọc.

Độc giả nếu muốn có thể đọc bài thơ Thuyền Và Biển và lời bình theo link sau đây:


Thư qua thư lại vài lần, được sự đồng ý của anh Ngọc, tôi viết bài này trước là trả lời anh Ngọc, sau là bổ khuyết cho bài bình thơ của tôi.

 Việc làm đầu tiên của tôi khi nhận thư là yêu cầu anh thay chữ “được”. Lý do: viết như thế là gieo tiếng “ác” cho phụ nữ, ám chỉ các nàng luôn hành hạ các đấng nam nhi (cả trong nghĩa chăn gối yêu đương lẫn không khí xào xáo trong gia đình), lúc gần nhau, chẳng bao giờ cho phép họ được yên. Anh PHN cũng đề nghị chữ “chịu” nhưng theo tôi thì nếu bảo:

          Nên thuyền trên mặt biển
          Có bao giờ chịu yên

trước hết,  nghịch ý với 2 câu “Cũng có khi vô cớ/ Biển ào ạt xô thuyền; theo Xuân Quỳnh thì Biển là tác nhân đối với tình trạng không yên của thuyền, nghĩa là thuyền ở thế thụ động nên không có quyền quyết định “chịu” hay không “chịu”. Hơn nữa, nói như thế là gieo tiếng “quậy” rất bất công cho phía nam giới.
Cuối cùng chúng tôi đồng ý giữ nguyên từ “đứng yên” của tác giả vì nó trung tính. Thuyền trên mặt biển không đứng yên là do lẽ tự nhiên của trời đất, “không phải tại anh cũng không phải tại em” mà do “gặp thời thế thế thời phải thế”.

Và bây giờ xin bàn đến kết quả sửa thơ của anh PHN.

 Đoạn thứ 3 của bài thơ được sửa lại thành:

          Những đêm trăng hiền từ
          Biển thầm thì to nhỏ
          Những điều rất riêng tư
          Bên mạn thuyền sóng vỗ.

Cô gái không được nhắc tới nhưng vẫn hiện diện trong đoạn thơ (dưới cái tên Biển); trong khi đó cả tứ lẫn ý cũng như âm điệu của bài thơ vẫn được giữ nguyên theo đúng ý của tác giả. Ở đoạn thứ 3 này công việc sửa thơ của anh PHN đã đạt được mục đích của mình, đã thành công mỹ mãn.

 Đoạn thứ 4 của bài thơ được sửa lại thành:

           Cũng có khi vô cớ
           biển ào ạt xô thuyền
           nên thuyền trên mặt biển
           có bao giờ đứng yên!

Đúng như anh Phan Hồng Ngọc dự tính, cách nói, suy nghĩ của “con người” đã biến mất. Thay vào đó là một thứ ngôn ngữ rất “Thuyền Và Biển”, rất hay và rất lạ. Âm điệu của bài thơ không thay đổi và ý của tác giả vẫn được giữ nguyên. Hay hơn nữa là 2 câu:

          Nên thuyền trên mặt biển
          Có bao giờ đứng yên.

lại rất khêu gợi, rất “tình”, đã bóng gió diễn tả cái cảnh “yêu nhau” của đôi trai gái. Ở đây việc sửa thơ của anh PHN không những đã chữa được chứng bệnh “lộn xộn trong phép ẩn dụ” mà còn làm cho đoạn thơ càng đáng yêu hơn nữa.

Như vậy, xin được trả lời anh Phan Hồng Ngọc: Dưới con mắt của một người bình thơ, việc sửa thơ của anh rất tuyệt. Cám ơn anh đã gởi thư góp ý. 

Khi Bình Thơ Có Nên Sửa Thơ Của Tác Giả Không?

Riêng về bình thơ, nếu gặp bài thơ có nhiều dị bản, hãy chọn bản có nguồn gốc đáng tin cậy nhất rồi cứ theo đó mà bình, mà tán. Nếu thấy chữ, câu, đoạn, ý nào không hay cứ tự do chỉ ra, vạch ra rồi giải thích, chứng minh vì sao nó không hay; không nên tùy tiện nhúng tay vào việc sửa thơ của tác giả.

Tôi đã gặp một bài bình thơ trong đó nhà phê bình đã ra tài “sửa chữa nâng cao”, viết lại cả bài thơ 24 câu, cộng thêm cái tựa của tác giả. Bình thơ kiểu ấy quá thô bạo và lố bịch.

Trong trường hợp vô cùng đặc biệt, người bình thơ có lý do để hoàn toàn tự tin, thấy chữ hoặc câu thơ mình sửa chắc đúng 100%, thì theo tôi, có thể Đề Nghị Sửa Chữa, Thay Thế nhưng phải tuân thủ Tất Cả những điều kiện sau đây:

     1/ Không làm sai lệch tứ, ý của tác giả
     2/ Không thay đổi âm điệu của đoạn thơ
     3/ Không ảnh hưởng đến dòng chảy của tứ thơ.
     4/ Sửa thơ để tăng giá trị nghệ thuật của bài thơ, không vì mục đích đen tối nào khác.
     5/ Công việc sửa chữa phải tối thiểu, lợi ích của việc sửa chữ phải to lớn, dễ nhận ra, có sức thuyết phục cao, không cần tranh cãi.
     6/ Chỉ là “đề nghị”, không được xem đó là kết luận chung cuộc.
     7/ Trường hợp nhạc sĩ đem thơ phổ nhạc thì có nhiều tự do hơn, nhưng nếu không khéo, không cân nhắc kỹ lưỡng, cũng sẽ lãnh đủ “búa rìu dư luận”.

Kết Luận

Sửa thơ, dù tác giả muốn hay không, đồng ý hay không, cũng  là “chuyện thường ngày ở huyện”, xảy ra hầu như ở mọi lúc, mọi nơi. Có người ra vẻ ta đây, phóng bút sửa thơ một cách vô ý thức, vô trách nhiệm trong khi sự hiểu biết thơ ca của mình còn non kém, khả năng thẩm định thơ ca còn “chưa tới”.

Có người sửa thơ không phải vì giá trị nghệ thuật của bài thơ mà vì mục đích riêng tư khác. Chính tôi cũng có mấy lần, thấy bài thơ mới trình làng của mình, thoắt một cái, đã xuất hiện trên diễn đàn này, trang web nọ với dung nhan đã qua “viện thẩm mỹ miệt vườn”.

Nhưng may mắn thay, cũng có những tài thơ ẩn mình trong đám đông thầm lặng, sửa thơ vì tấm lòng với thơ, vì yêu cái hay, cái đẹp của thơ, sửa thơ một cách lịch sự và tôn trọng tác giả. Quan trong hơn cả là việc sửa thơ của họ thường nâng giá trị nghệ thuật của bài thơ lên rất cao. Với tôi, anh Phan Hồng Ngọc là một trong những người yêu thơ đáng quý đó.



Thứ Tư, 31 tháng 10, 2018

ANH BẰNG SỬA THƠ YÊN THAO



Tôi đứng bên này sông 

 Bên kia vùng giặc đóng

 là 2 câu mở đầu trong bài thơ Nhà Tôi của Yên Thao.
Khi phổ nhạc bài thơ nhạc sĩ Anh Bằng sửa lại:

Tôi đứng bên này sông

Bên kia vùng lửa khói

 Nhà Tôi là tâm trạng hồi hộp, lo âu của một người lính trước giờ nổ súng mà mục tiêu của trận đánh lại chính là ngôi làng bên kia sông, có căn nhà nơi những người thân yêu nhất của mình, bà mẹ già và cô vợ trẻ, đang cư trú. Trước hết, đưa cụm từ “vùng lửa khói” vào không ăn khớp với thực tế trận địa; chưa nổ súng thì làm gì có “lửa khói!” Hơn nữa, chi tiết làng tôi là “vùng giặc đóng” khiến việc đánh bật trại giặc để chiếm lĩnh mục tiêu trong một trận đánh có cả pháo binh sẽ rất nguy hiểm cho căn nhà và những người sống trong đó. Điều này làm nỗi lo của người lính thật hơn, khơi dậy nơi người đọc cảm xúc mạnh hơn. Anh Bằng đã làm tứ thơ dở đi rất nhiều khi thay cụm từ trên.

CHỌN THƠ ĐỂ BÌNH


Người bình thơ phải tự trả lời 3 câu hỏi:

     1/ Bài thơ có đủ hay, đủ tiếng tăm, đủ hấp dẫn để có thể “mời gọi” độc giả đến với bài bình thơ của mình hay không?
     2/ Bài bình thơ của mình – phân tích, giải thích cái hay, cái dở (nếu có) của bài thơ dựa vào những Tiêu Chí thẩm định giá trị nghệ thuật thơ ca - có đem lại điều gì mới, bổ ích (về thơ) cho độc giả hay không? Lập luận của mình có đủ sức thuyết phục những độc giả hiểu biết, khó tính và cả giới phê bình không?

      3/ Nếu đã có những bài bình trước rồi thì liệu bài bình của mình có đem lại điều gì mới hơn những bài bình đó hay không?
Thơ được chọn bình hầu hết là thơ hay (theo nhận định của người bình) hoặc ít nhất cũng có một điểm gì đó nổi bật như tứ thơ, ý thơ mới lạ, khả năng diễn đạt ý tưởng của tác giả điêu luyện, ngôn từ trong sáng, sang cả, hình ảnh đẹp, được đặt đúng chỗ, đúng lúc làm tăng sức hấp dẫn của bài thơ. Bên cạnh đó có thể còn có sự xuất hiện của những “cầu thủ siêu sao” – những câu, đoạn thơ độc đáo – cách kết thúc đầy ấn tượng, phép ẩn dụ ý nhị, thủ pháp Show, Not Tell khéo léo, cảm xúc dạt dào. Đây là chỗ mà người yêu thơ đọc đi, đọc lại để thưởng thức, còn người bình thơ giải thích, phân tích để chia sẻ cái đẹp ấy với mọi người.

Đã bình thơ là phải có khen chê. Dĩ nhiên, cũng có (nhưng rất ít) những bài thơ toàn bích, còn thì đại đa số thơ được lưu hành thế nào tác giả cũng có một chút “không khéo” ở chỗ này, chỗ khác; người bình thơ cũng phải chỉ ra để độc giả (trong đó có rất nhiều thi sĩ khác) rút kinh nghiệm khi viết những bài thơ sau. Thấy khuyết điểm mà lờ đi vì những lý do không liên quan đến thơ thì, theo tôi, là hành vi “thiếu lương thiện trong văn chương”. Hơn nữa, bình thơ mà bài nào cũng khen tuốt luột từ đầu đến chân thì, nói như nhà văn Châu Thạch, là “nịnh thơ” chứ không phải bình thơ.

Phạm Đức Nhì
nhidpham@gmail.com

TÔ ĐÔNG PHA SỬA THƠ VƯƠNG AN THẠCH




Vương An Thạch trong lúc du học ở đảo Hải Nam đã làm một bài thơ trong đó có hai câu rất lạ:
Minh 
Nguyệt sơn đầu khiếu
Hoàng 
Khuyển ngọa hoa tâm

Dịch nghĩa:
Trăng sáng hót đầu núi
Chó vàng nằm (trong) lòng hoa

Thi hào Tô Ðông Pha 
tình cờ đọc được, thấy “sai” (trăng sáng làm sao hót trên đầu núi và chó vàng làm sao nằm trong lòng hoa được) nên đã sửa lại hai chữ cuối cho đúng nghĩa hơn.

Minh nguyệt sơn đầu chiếu
Hoàng khuyển ngọa hoa âm

Dịch nghĩa:
Trăng sáng rọi đầu núi
Chó vàng nằm (dưới) bóng hoa

Chuyện sửa thơ đến tai Vương An Thạch 
(lúc ấy đang là Tể Tướng) nên họ Vương đã bổ nhiệm Tô thi hào một chức quan ở Hải Nam. Sau đó Tô Ðông Pha mới khám phá ra ở địa phương này có loại chim tên là Minh Nguyệt, hay hót trên đầu núi, và có một loại sâu tên là Hoàng Khuyển, chỉ thích nằm trong lòng hoa! Và người kể chuyện kết luận “Lúc ấy Tô Ðông Pha mới biết là mình xớn xác, bồng bột và thấy được cái thâm trầm của Vương An Thạch.


Theo tôi, việc Tô Đông Pha sửa thơ không có gì là “xớn xác, bồng bột” hết. Người đọc thơ, bình thơ – trong thế giới thơ rộng lớn - không thể biết và không có bổn phận phải biết những chi tiết, sự việc chỉ có, chỉ xảy ra ở một địa phương nhỏ bé. Chính thi sĩ - để hoàn thành chức năng truyền thông của bài thơ - phải chú thích để người đọc biết, hiểu những chi tiết, sự việc có tính chất địa phương ấy. Lỗi và trách nhiệm ở đây nằm trên hai vai Vương An Thạch chứ không phải Tô Đông Pha.

Phạm Đức Nhì
nhidpham@gmail.com



Thứ Tư, 19 tháng 9, 2018

TRAO ĐỔI VỀ "BÀI THƠ" ĐỒNG DAO CHO NGƯỜI LỚN


                               
                                    (Phần 1)

                 

Sau khi đăng bài viết Về “Bài Thơ” Đồng Dao Cho Người Lớn của tôi trên trang web văn học Vũ Nho Ninh Bình, bác Vũ Nho (PGS/ TS) - chủ trang web - đã vìết một bình luận ngay dưới bài viết.

Nếu độc giả chưa đọc bài Về “Bài Thơ” Đồng Dao Cho Người Lớn có thể đọc theo link sau đây:

Bình Luận Của TS Vũ Nho:

Đây là ý kiến cá nhân của tác giả Phạm Đức Nhì!

Về định nghĩa thể loại thì Nguyễn Trọng Tạo gọi đây là đồng dao (Đồng là trẻ em, dao là bài hát không thành chương khúc. Đồng dao là bài hát trẻ con) Nhưng ở đây là đồng dao cho người lớn. Nguyễn Trọng Tạo chỉ "mượn" hình thức đồng dao thôi. Cũng không nên căn cứ vào tuyên bố của tác giả để quyết rằng đồng dao là một loại VÈ như Phạm Đức Nhì đã làm. Cũng không thể nói rằng VÈ thì kém THƠ. Vè là một thể loại văn học dân gian. Một bài VÈ Hay thì quý gấp nhiều lần một bài THƠ Dở. Đó là điều không thể phản bác. Nhưng "Đồng dao cho người lớn" có phải là VÈ không thì câu chuyện không đơn giản. Những bài đồng dao, hay vè, yếu tố cá nhân, cái tôi của tác giả hầu như khá mờ nhạt. Ngay cả khi kể vè : "Ve vẻ vè ve, lặng nghe tôi kể... thì cái "tôi" ấy cũng không có nét riêng. Thường thì dân gian bắt đầu : "Ve vẻ vè ve, cái về thằng Nhác...".

Bài “đồng dao cho người lớn” thể hiện CÁI TÔI của tác giả rất rõ. Chỉ hai câu đầu thôi, đã thấy cảm xúc mạnh mẽ của tác giả về sự SỐNG Và CHẾT. Tại sao anh Nhì lại thấy rằng những dòng này "không có tâm hồn và cảm xúc" nhỉ? Đó là chuyện riêng của anh. Riêng câu nhận xét của chị KIm Phương rằng bài đó "khô" cho nên hoài nghi không biết có phải thơ không thì...thật là phiến diện. Có thơ trữ tình, có thơ trí tuệ, có thơ văn xuôi...sao cứ phải "ướt" hay "không khô" mới là THƠ?

Chẳng ai được giao trách nhiệm canh giữ vườn thơ cả. Là thơ hay không thơ là do người đọc cảm nhận. Là THƠ hay hoặc THƠ dở cũng do cách đánh giá riêng của mỗi người. Cứ việc bàn luận. Nhưng chớ nghĩ rằng mọi người sao... lơ mơ thế, chỉ có ý kiến mình là đúng đắn thôi. Tôi muốn nhắn anh Phạm Đức Nhì mấy lời và dù khác ý kiến của anh, tôi vẫn tôn trọng đưa bài viết này!


Phạm Đức Nhì:


Tôi đã đọc bình luận của bác dưới bài viết và thấy rằng nhìn nhận và đánh giá của bác và tôi về bài ĐDCNL của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo, quả thật, có khác nhau. Xin phép được làm rõ vài điểm trong bình luận của bác.

1/ Xét về mặt hình thức, ĐDCNL có phải là Vè không? 

Theo Đỗ Trọng Khơi, “Đồng Dao của Nguyễn Trọng Tạo viết ở nhịp 8 chữ nhưng soi chẻ rạch ròi vẫn thấy cái dư khí của hồn bốn chữ dân gian”. Tôi đồng ý với anh ở điểm này. Cho nên ĐDCNL – đúng như cái tựa của nó – là một bài đồng dao (biến thể). Mà đồng dao, theo đoạn trích trong Wikipedia Tiếng Việt ở trong bài viết của tôi, là một loại vè. Chính vì thế, theo tôi, khi chọn cái tựa ấy, về mặt hình thức, tác giả đã vô tình tự xếp loại nó là vè. 

Tuy nhiên, để khỏi lầm trường hợp mà theo bác, “Nguyễn Trọng Tạo chỉ ‘mượn’ hình thức đồng dao thôi” nên tôi phải nhìn vào nội dung. Nếu nó có cảm xúc từ cái tôi riêng tư của tác giả thì đúng là một bài thơ mượn hình thức đồng dao. Nếu nó tuyệt nhiên không có một tý ty cảm xúc của “cái tôi riêng tư” thì trong trường hợp này, vì đã có hình thức đồng dao, nó sẽ là bài Vè. Tôi sẽ bàn về điểm này ở phần số 4.

2/ Cũng không thể nói rằng VÈ thì kém THƠ. Vè là một thể loại văn học dân gian. Một bài VÈ Hay thì quý gấp nhiều lần một bài THƠ Dở. Đó là điều không thể phản bác. 


Tôi đã gặp một y tá già, giầu kinh nghiệm lại mát tay nên chạy rong chữa bệnh cho bà con trong thôn xóm được nhiều người thích. Có người phát biểu: “Y tá mà như ông M. thì còn hơn mấy anh bác sĩ mới ra trường”. Nói thì nói thế chứ đi vào thực tế thì y tá và bác sĩ ở hai đẳng cấp khác nhau, cao thấp cách nhau một trời một vực. Chẳng ai là y tá mà dám coi mình ngang hàng với bác sĩ. Làm thế người ta cười chết. Phòng tổ chức của một đơn vị y tế cũng không dám bổ nhiệm một y tá vào cương vị của bác sĩ. Làm thế là sai luật, trái nguyên tắc.

Vè với Thơ cũng thế. Vè là Vè, Thơ là Thơ. Hai loại ở hai đẳng cấp riêng biệt, cao thấp khác nhau. Tôi có thằng bạn nói đùa về thơ một thằng bạn khác “Thơ của mày cứ như Vè ấy”. Thằng làm thơ coi đó là điều sỉ nhục, và hai đứa giận nhau rất lâu. Hồi mới bập bẹ làm thơ, thầy giáo môn Việt Văn của tôi thường nhắc “Khéo đấy! Coi chừng thơ thành vè thì tổ làm trò cười cho thiên hạ.”

Vì thế tôi cho rằng y tá có kinh nghiệm cách mấy cũng cũng không thể vỗ ngực coi mình ngang hàng với bác sĩ; và Vè rõ ràng không thể cùng đẳng cấp với Thơ.


3/ Bác Vũ Nho viết: “Những bài đồng dao, hay vè, yếu tố cá nhân, cái tôi của tác giả hầu như khá mờ nhạt”. 

Theo tôi, nếu đúng là đồng dao thì cái tôi riêng tư của tác giả không phải là “hầu như khá mờ nhạt” mà hoàn toàn vắng bóng. Bởi chỉ cần một tý tẹo teo cái tôi riêng tư thì nó đã không còn là vè nữa mà được nâng cấp thành thơ. 

4/ Bài đồng dao cho người lớn thể hiện CÁI TÔI của tác giả rất rõ. Chỉ hai câu đầu thôi, đã thấy cảm xúc mạnh mẽ của tác giả về sự SỐNG Và CHẾT. 

Trong câu thơ của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo: 

Có cánh rừng chết vẫn xanh trong tôi” 

chữ “tôi” nằm sờ sờ ra đó nên rất dễ hiểu lầm là “cái tôi” của tác giả đã có mặt trong câu thơ. 

Có hai điểm cần lưu ý trong “câu thơ” này: 

     a/ Cụm từ “Có cánh rừng chết” nói chung chung, không cụ thể, không nói rõ “cánh đồng chết” nào nên chỉ là một hình tượng đã lôi ra từ trong ký ức, là sản phẩm của lý trí chứ không phải cảnh thơ. Nếu có một đoạn trước đó nói về “cánh rừng chết” và ở đây dùng cụm từ “Cánh rừng chết ấy” thì chúng ta đã có cảnh thơ. Thí dụ như đoạn thơ dưới đây: 

Cánh rừng sát bên Xóm Đạo
sau những đợt mưa bom, mưa pháo
đã thành cánh rừng chết
với người đời
nhưng trong tôi
vẫn tươi mát một màu xanh.

“Cánh rừng chết” đã là cảnh thơ nên 2 câu thơ cuối:

nhưng trong tôi
vẫn tươi mát một màu xanh


đã là tâm tình của cái tôi riêng tư (tác giả), ít nhiều đã có cảm xúc và đã xứng đáng được gọi là thơ. (Hay dở chưa bàn đến). 

     b/ Sự xuất hiện của chữ “Có” đã khiến chữ “tôi” trở thành nhân vật trong “câu kể” của tác giả chứ không phải chính tác giả - người đang sáng tác thơ. Thi sĩ Nguyễn Trọng Tạo ở đây phải đóng 2 vai. Một, là nhân vật “tôi” trong “câu kể”, đã xuất hiện trong quá khứ và đã trốn trong ký ức, giờ bị lôi ra trình làng. Hai, là người bằng xương bằng thịt đang ngồi cầm bút làm thơ. 

Kết quả là câu “Có cánh rừng chết vẫn xanh trong tôi” chỉ là hình tượng được lội ra từ ký ức, không có cái tôi riêng tư của tác giả dự phần nên không có cảm xúc và không phải là thơ. 

Bài ĐDCNL chỉ có câu đầu dễ hiểu lầm là thơ, còn lại những câu khác đều là những “câu kể” phát xuất từ bề mặt ý thức, rất dễ nhận ra. Sau khi đã chấp nhận phần giải thích lý do tại sao câu đầu không phải là thơ, độc giả có thể tự kết luận cả bài không phải là thơ. ĐDCNL có hình thức là đồng dao - một loại Vè – nên nó là một bài Vè.

5/ Riêng câu nhận xét của chị KIm Phương rằng bài đó "khô" cho nên hoài nghi không biết có phải thơ không thì...thật là phiến diện. Có thơ trữ tình, có thơ trí tuệ, có thơ văn xuôi...sao cứ phải "ướt" hay "không khô" mới là THƠ? 


Theo tôi hiểu, chị Kim Phượng nói “khô” với nghĩa không có tý cảm xúc riêng tư nào của tác giả. Thơ trữ tình thì không nói làm gì, còn thơ trí tuệ, thơ văn xuôi hay thơ … gì gì nữa cũng phải có cảm xúc riêng tư của tác giả thì mới gọi là thơ. Chứ “khô queo” thì nếu không là vè thì cũng là thứ dị chủng, khác loại với thơ. 

6/ Bàn thêm về câu thơ “sinh tình”

ĐÀN BÀ 

Có hai loại đàn bà 
loại chính chuyên chung thủy với chồng 

Loại không lấy chồng
suốt đời đến với đàn ông 
chỉ để thỏa mãn nhu cầu xác thịt 
tìm vui trong chốc lát.

Sáu câu trên chỉ là cách nhìn của tác giả về đàn bà, đến từ bề mặt ý thức, chưa phải là thơ. Nhưng chỉ cần thêm câu sau đây:

Tôi thích loại đàn bà thứ hai 

thì đã có cảm xúc, tình đã xuất hiện, cả bài đã trở thành thơ. Câu “Tôi thích loại đàn bà thứ hai” là câu thơ sinh tình. 

Bài ĐDCNL, tôi trộm nghĩ, do cấu trúc của đồng dao “không thành chương khúc” nên khó đưa vào một câu thơ sinh tình thích hợp. 

Kết Luận 

Với tôi, trang web Vũ Nho Ninh Bình của bác là một trang văn học đứng đắn. Tôi rất thích câu chào “Đây là quán tha hồ muôn khách đến!” Cám ơn bác đã cho tôi hân hạnh có một số bài được đăng ở đấy. Phần cuối của bình luận về bài viết bác đã nhắn “dù khác ý kiến với anh tôi vẫn tôn trọng đưa bài viết này”. Đó là thái độ người lớn, công tâm trong giao lưu văn học. 


Với nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo, tôi một lòng kính trọng ở tài năng và uy tín của ông. Mặc dù chưa trực tiếp trò chuyện, tôi đã “gặp” ông nhiều lần trong những Ngày Thơ Nguyên Tiêu ở Văn Miếu Quốc Tử Giám. Nhận xét về tính thơ của bài ĐDCNL của ông tôi đâu dám giỡn chơi. Tôi đã tra cứu, vận dụng kiến thức của mình về thơ ca và viết rất cẩn trọng. 

Bình luận của bác đã cho tôi cơ hội nhìn lại bài viết của mình một cách kỹ càng hơn để trả lời những chất vấn của bác. Tôi tin ở những điều mình viết, nhưng với đề tài liên quan đến lý thuyết thơ, ai dám chắc là mình không sai sót? Ai dám chắc là mình được sự đồng thuận của mọi người? Tôi sẵn sàng đón nhận những phê bình, góp ý của bác và của những độc giả khác. 

Một lần nữa, xin chân thành cảm ơn bác.



                    TRAO ĐỔI VỀ “BÀI THƠ” ĐỒNG DAO CHO NGƯỜI LỚN

                                                  (Phần 2)

Sau đó trên trang Vũ Nho Ninh Bình TS Vũ Nho viết mấy lời giới thiệu rồi gom những trao đổi giữa ông và tôi thành một bài mới với cái tựa Thảo Luận Bài ĐỒNG DAO CHO NGƯỜI LỚN Của Nguyễn Trọng Tạo. Dưới đây là lời giới thiệu:

vunhonb.blospot.com  Sau khi chúng tôi đưa lên trang bài của tác giả Phạm Đức Nhì về bài " Đồng dao cho người lớn" của Nguyễn Trọng Tạo, (ngày 14 tháng Bảy năm 2018) kèm nhận xét ở phần cuối; tác giả Phạm Đức Nhì đã có phản hồi trao đổi lại. Tôi nghĩ đây là vấn đề lí thú nên đưa lên đây như là một chủ đề, mời mọi người cùng đọc và trao đổi.

Và TS Vũ Nho viết bình luận tiếp theo:

Cám ơn anh Phạm Đức Nhì đã hồi âm về nhận xét của tôi!

Việc tranh luận học thuật là bổ ích. Tôi và anh không nhằm mục đích THẮNG/THUA. Chúng ta tranh luận là để nhận thức đúng hơn, sâu hơn về vấn đề được quan tâm. Ai cũng tin vào nhận thức của mình và quan điểm mình bảo vệ. Đó là điều bình thường.

Xin vắn tắt một chút về THƠ và VÈ. Anh so sánh Y tá lành nghề với Bác sĩ. Kết luận đó là 2 đẳng cấp cũng như Vè và Thơ là 2 đẳng cấp. Chỗ này anh có một ngộ nhận lớn. Y tá và Bác sĩ là 2 chức danh cùng ngành y. Y tá đào tạo ngắn hạn. Bác sĩ đào tạo dài hạn. Nhưng Thơ và Vè không phải như vậy. Vè là thể loại, Ca dao (thơ dân gian) là một thể loại khác. Không thể ví như Y tá với Bác sĩ. Hai thể đó bình đẳng với nhau, không có cao hay thấp. Anh có biết rằng trong sách giáo khoa Ngữ văn, Vè được trích học ngang hàng với ca dao, với thơ (những bài hay nhất). Bài "Vè con dao", "Vè rau" thuộc loại những viên ngọc của thơ ca dân gian (Bác Vũ Nho có học vị PGS, Tiến Sĩ). Việc chê Thơ dở như Vè là cách chê nôm na, dân dã có tính chất khẩu ngữ. Không thể dựa vào đó để bình giá chất lượng một bài Vè đặc sắc hay bài Thơ đặc sắc được.

Tôi đã khẳng định một bài VÈ hay quý hơn một bài THƠ dở. Vì vậy anh cố công chứng minh bài "Đồng dao cho người lớn" là một bài Vè sẽ không ảnh hưởng mấy đến chất lượng của nó. Cốt là bạn đọc thấy ĐDCNL hay!

Trả Lời Của Phạm Đức Nhì

Giữa vè và thơ có thêm 2 khác biệt nữa:

     1/ Trong vè ý tưởng bừa bộn, như trong đồng dao “không thành chương khúc”. Trong thơ có thế trận chữ nghĩa, “đấu pháp toàn đội” mà dân phê bình thường gọi là cấu tứ.

Hồi tiểu học tôi mê túc cầu. Mẹ mua cho trái banh, thường rủ mấy đứa cùng trang lứa ra khu đất trống chia làm 2 phe “chiến đấu”. Cũng cởi áo ra làm mốc khung thành đàng hoàng nhưng khi banh lăn thì mạnh ai nấy đá, “hồn ai nấy giữ”. Có banh trong chân là cứ một mình thẳng tiến khung thành đối phương.

Lớn lên mới biết chơi như thế không hiệu quả. Đội banh phải biết phối hợp công thủ, tiếp ứng để vừa không cho đối phương chọc thủng lưới mình vừa tạo cơ hội cho hàng tiền đạo chọc thủng lưới đối phương.

Có “đấu pháp toàn đội” thơ hơn hẳn vè ở mặt tổ chức.

     2/ Vè không có cảm xúc, trong khi với thơ, cảm xúc không thể thiếu; cảm xúc đóng vai trò quan trọng đối với sự thành bại của bài thơ. Đến với vè, hiểu được ý của tác giả rồi … thôi. Đến với thơ, “bắt” được tứ thơ còn vương vấn chữ … tình.

TS Vũ Nho:

Chỗ này anh Nhì lại nói không có căn cứ rồi. Tại sao trong VÈ ý tưởng lại "bừa bộn"? Anh căn cứ vào tài liệu nào mà quả quyết như vậy? Vè chỉ khác thơ dân gian (ca dao) ở chỗ về giàu yếu tố tự sự ( kể chuyện). Vẻ chàng Lía, Vè thất thủ kinh đô... kể chuyện chàng Lía, chuyện kinh đô thất thủ... Tác phẩm Vè hay vẫn cần mạch lạc, nhất quán. Làm gì có chuyện "ý tưởng bừa bộn"? Anh đọc lại bài vè Rau và và vè CON DAO xem chỗ nào thể hiện "ý tưởng bừa bộn"? Anh nói "vè không có cảm xúc" lại là nói lấy được! Bất cứ một tác phẩm văn chương nào, dù thể loại gì, cũng được tạo ra trong cảm xúc của người sáng tạo. Có điều có loại cảm xúc "lặn vào trong", có loại cảm xúc "bong ra ngoài"; có loại cảm xúc mãnh liệt, có loại cảm xúc vừa phải; có cảm xúc trào tuôn, có cảm xúc kìm nén. Sao lại bảo chỉ đến với THƠ mới vương vấn chữ TÌNH, còn với VÈ, (hoặc các thể loại khác) thì...thôi? Tôi cảm thấy anh Phạm Đức Nhì vẫn sai lầm khi coi THƠ cao hơn VÈ, chỉ có THƠ là có "đấu pháp toàn đội", còn VÈ thì không. Nhưng bài thơ dở thì tìm đâu ra "đấu pháp toàn đội"?

Phạm Đức Nhì Trả Lời:

Một Vài Tra Cứu Về Đặc Tính Của Vè

Để nói có sách, mach có chứng, tôi đã vào một số trang Web Văn Học và ghi lại mấy nhận xét về đặc tính của vè như sau đây:

1/ Theo Đại Nam Quốc Âm Tự Vị, vè là chuyện khen chê có ca vần.

2/ Những người đặt vè, bẻ vè, nói vè phần nhiều thuộc tầng lớp dưới trong xã hội.            

3/ Vè mang tính thời sự, các sự kiện trong quá khứ ít được vè quan tâm. Vè xuất hiện tức thời, nắm bắt nhạy bén sự việc, sự kiện, ghi nhanh, rồi truyền đi để gây dư luận.

4/ Vè xuất hiện nhằm đáp ứng sự phản ánh tức thời một sự việc, sự kiện, ngôn ngữ vè mộc mạc, đơn giản, không trau chuốt, gọt dũa, phần lớn các bài vè lại có vận mệnh ngắn ngủi.

5/ Phần lớn các bài vè lại có vận mệnh ngắn ngủi, thời gian cần thiết để đạt tới một hình thức hoàn chỉnh, trau chuốt ít có được.

Kết hợp lại cho dễ hiểu, những người nghiên cứu về vè, viết về vè có những nhận xét sau đây:

1/ Những người đặt vè, bẻ vè, nói vè phần nhiều thuộc tầng lớp dưới trong xã hội.

Vì là tầng lớp dưới của xã hội nên tác giả của vè về kiến thức và “tay nghề” văn chương thường non nớt nếu so sánh với các thi sĩ làm thơ. Ở cái thời vè phát sinh và sau đó là phát triển, thi sĩ làm thơ phần nhiều thuộc giới khoa bảng, thành đạt trên đường học vấn. Hoặc nếu lận đận bước đường thi cử thì cũng là những Ông Đồ làu thông kinh sử, nắm vững quy luật sáng tác các thể loại kinh nghĩa, chiếu, biểu, phú, văn sách … và đặc biệt là các loại thơ.

2/ Vè là chuyện khen chê có ca vần; chuyện xuất hiện tức thời, mang tính thời sự, tác giả nắm bắt nhạy bén sự việc, sự kiện, ghi nhanh rồi truyền đi để gây dư luận.

Mục đích của vè là truyền sự việc, sự kiện thật nhanh cho “kịp thời vụ”; giá trị nghệ thuật là thứ yếu, có thì tốt, không có cũng không sao. Viết vè là kể chuyện bằng văn vần nên thường kể hết chuyện thì thôi, không có đoạn kết. Nếu có thì cũng nhạt phèo, không gây ấn tượng.

Thí dụ 1: Vè Rau. “Nghe vẻ nghe ve – Nghe vè các rau”, cứ thế kể đến loại rau cuối “Giục ngựa buông cương – Là rau mã đề” thì hết.

Thí dụ 2: Vè Chàng Lía

Bài vè rất dài (134 câu), âm điệu lục bát, à ơi nghe rất chán. Đoạn kết thì nhạt nhẽo, “có cũng như không”

Chuyện Lía nay kể như y
Giúp vui cô bác một khi việc rồi
Đầu đuôi có thế mà thôi
Xin chào chư vị, quê tôi tôi về.


3/ Ngôn ngữ vè mộc mạc, đơn giản, không có đủ thời gian cần thiết để đạt tới một hình thức trau chuốt, hoàn chỉnh.

“Đội bóng vè”, vì thời gian gấp rút, tiếp nhận cầu thủ một cách vội vàng, thiếu huấn luyện, thao dợt nên dàn cầu thủ thô ráp, xô bồ, trong khi “đội bóng thơ”, không bị áp lực thời gian, tuyển lựa cầu thủ kỹ càng hơn, được huấn luyện, thao dợt chung để có sự ăn ý với đồng đội, sau đó còn tuyển đi chọn lại trước khi ra sân thi đấu. Nói rõ hơn, “đội bóng vè” là đội thành lập vá víu để đá “chầu”, đá theo “phong trào”, “đội bóng thơ” là đội tuyển, đã có tính chuyên nghiệp.

Thêm vào đó, những thủ pháp nghệ thuật của thơ (ẩn dụ toàn bài, “Gợi, Không Kể”), những đấu pháp toàn đội (cấu tứ) đặc biệt để tạo bất ngờ, tăng sức hấp dẫn cho “lối đá” của các “đội bóng thơ” – do không đủ thời gian và trình độ của “huấn luyện viên” chưa “tới” – nên các “đội bóng vè” đành cho qua.

4/ Kết quả là phần lớn các bài vè có vận mệnh ngắn ngủi.

Tính thời sự là cốt tủy của bài vè. Rất nhiều bài vè, do mất tính thời sự, không còn “hợp thời”, rủ nhau đi vào quên lãng. Dĩ nhiên, cũng có những bài vè còn sống sót. Nhưng lý do để được sống sót phần lớn là nhờ tính lịch sử của những sự kiện, sự việc được lưu truyền (Vè Chàng Lía), cực hiếm có trường hợp do giá trị nghệ thuật của bài vè. Ngoài ra, một số vè còn đang được lưu truyền, cất giữ là để làm tư liệu, tài liệu trong giáo dục văn học, đặc biệt trong những tác phẩm nghiên cứu Văn Học Sử lớn, bao gồm những giai đoạn lịch sử mà vè được phát sinh và phát triển. 

Trích Dẫn Mấy Bài Vè

VÈ RAU

Ve vẻ vè ve
Nghe vè các rau
Thứ ở hỗn hào
Là rau ngành ngạnh
Trong lòng không chánh
Vốn thiệt tâm lang
Đất rộng bò ngang
Là rau muống biển
Quan đòi thầy kiện
Bình bát nấu canh
Ăn hơi tanh tanh
Là rau dấp cá
Có mẹ không cha
Rau má mọc bờ
Thò tay sợ dơ
Nó là rau nhớt
Ăn cay như ớt
Vốn thiệt rau răm
Sống trước ngàn năm
Là rau vạn thọ
Tánh hay sợ vợ
Vốn thiệt rau co
Làng hiếp chẳng cho
Đó là rau húng
Lên chùa thờ cúng
Thiệt dạ hành hương
Giục ngựa buông cương
Là rau mã đề



VÈ BÌNH DÂN HỌC VỤ
               
Lẳng lặng mà nghe
Cài vè học vụ
Đồng bào mù chữ
Ở khắp mọi nơi
Chiếm chín phần mười
Toàn dân đất Việt
Muôn bề chịu thiệt
Chịu đui, chịu điếc
Đời sống vùi dập
Trong vòng nô lệ
Hơi đâu mà kể
Những sự đã qua
Chính phủ Cộng hòa
Ngày nay khác hẳn
Đêm ngày lo lắng
Đến việc học hành
Mấy triệu dân lành
Còn đương tăm tối
Bị đời hất hủi
Khổ nhục đáng thương
Ngơ ngác trên đường
Như mù không thấy
Những điều như vậy
Không thể bỏ qua 


VÈ THỊT CHUỘT 

Nghe vẻ nghe ve 
Nghe vè thịt chuột 
Đứa nào ở đó 
Bắt nước cạo lông 
Đứa nào ở không 
Đi mua đồ nấu 
Đứa nào xấu xấu 
Xắt sả nạo dừa 
Đứa nào không ưa 
Thì đi chỗ khác 
Kiên tâm một lát 
Là có món ăn 
Đừng làm lăng xăng 
Người ta đàm tiếu 
" Con chuột nhỏ xíu 
Sáu bảy người ăn" 



Cảm Xúc Trong Văn, Thơ, Và Vè

Do thi sĩ ngày càng ít câu nệ về mặt hình thức nên khoảng cách giữa thơ và văn xuôi, có thể nói, ngày càng giống như sợi tơ mong manh, không rạch ròi như xưa. Nhưng có một sự khác biệt rất rõ nét – không thể nhập nhòe - là cảm xúc. 

Nhiệm vụ chính của văn xuôi là chuyển tải thông điệp. Cảm xúc cũng có thể có đấy, nhưng chỉ là sản phẩm phụ, không có cũng không sao. Hợp đồng thương mại, án quyết của tòa là những thí dụ.

Còn với thơ, cảm xúc là cốt tủy. Thông điệp của thơ nhiều khi chỉ là cái cớ, là phương tiện để nhà thơ bày tỏ tâm trạng, cảm xúc của mình. Thiếu cảm xúc - thứ cảm xúc của cái tôi riêng tư - thơ sẽ trở thành một chủng loại khác chứ không còn là thơ nữa.

Riêng với vè, nó là văn vần nhưng khác văn xuôi thêm một điểm là tuyệt nhiên không có cảm xúc của cái tôi riêng tư. Người viết vè kể chuyện nhưng là kẻ bàng quan, đứng ngoài câu chuyện của bài vè.

Ba Trạng Thái Tâm Lúc Làm Thơ


     1/ Tranh cãi, tranh luận, phản biện, nói lý lẽ:

Với tâm thái này nếu tác giả biết đưa cái tôi riêng tư vào khung cảnh của cuộc tranh cãi thì tác phẩm, dù có hơi khô khan, vẫn có chút ít cảm xúc, nên vẫn là thơ. Ngược lại, nếu không khéo, cứ sa đà vào lý, để cái tôi riêng tư đứng ngoài làm kẻ bàng quan, thì tác phẩm sẽ là “cái gì đó” chứ không phải là thơ.

Xin cử 2 bài của Thái Bá Tân để làm thí dụ.

MẮNG CON

Mày láo, dám khuyên bố
Mai không đi biểu tình.
Chuyện ấy có nhà nước,
Không liên quan đến mình.
Mày nói y như đảng.
Không liên quan thế nào?
Nước là của tất cả,
Của mày và của tao.
Biểu tình chống xâm lược,
Chứ có lật ai đâu.
Không lẽ mày không biết
Cái dã tâm thằng Tàu?
Mày bảo có nhà nước.
Nhà nước hèn thì sao?
Mà ai cho nhà nước
Quyết việc này thay tao?
Xưa đánh quân Mông Cổ,
Vua còn hỏi ý dân.
Sao không thấy nhà nước
Xấu hổ với vua Trần?
Đành rằng thế mình yếu,
Phải thế nọ, thế này.
Nhưng ở đời, con ạ,
Mềm nắn, rắn buông ngay.
Bố biết con thương bố,
Lo cho bố, cảm ơn.
Con “biết sống”, có thể.
Xưa bố còn “biết” hơn.
Chính vì khôn, “biết sống”,
Tức ngậm miệng, vờ ngây,
Mà thế hệ của bố
Để đất nước thế này.
Ừ, bố già, lẩn thẩn,
Nhưng vẫn còn là người.
Mà người thì biết nhục,
Biết xấu hổ với đời.
Mai biểu tình, thế đấy.
Bố không bắt con đi,
Nhưng cũng đừng cản bố.
Cản cũng chẳng ích gì.

Rõ ràng ở đây có giọng tranh luận, nói lý lẽ, giọng bố “dạy” con. Nhờ đóng vai bố, Thái Bá Tân đã đưa được cái tôi riêng tư vào khung cảnh của bài Mắng Con. Bên cạnh lý, có tinh nên Mắng con đích thị là thơ.

HÔM NAY XỬ WILL NGUYỄN, KHÓ ĐẤY

Kể cũng khó cho đảng.
Biết xử thế nào đây
Chàng Việt kiều Will Nguyễn?
Vấn đề là thế này:

Nếu tha, đuổi về nước
Thì sẽ vướng đồng bào.
Rất nhiều người bị bắt.
Nhà nước định tính sao?

Vì không thể có chuyện
Cùng một “tội” như nhau,
Người thì được tha bổng,
Người bị giam tù lâu.

Rồi các bác sẽ thấy,
Will Nguyễn sẽ được tha.
Không tha Mỹ nó oánh.
Cho nên ở nước ta

Thực sự đếch có luật.
Cứ mềm nắn rắn buông.
Thích gì cứ làm ấy.
Nôm na là diễn tuồng.

Cũng may mà da mặt
Của chính quyền khá dày,
Nên sẽ không xấu hổ.
Thì vẫn thế xưa nay./-

Thái Bá Tân
(Mới lưu truyền trên mạng)


Ở bài này ông cũng phân bua, cũng nói lý lẽ, nhưng cái tôi riêng tư lại đứng ngoài khung cảnh của câu chuyện. Những điều ông trình bày phát xuất từ “trí” chứ không phải “tâm” nên Hôm Nay Xử Will Nguyễn, Khó Đấy không có chất tình, không phải là thơ. Theo tôi, nó cũng không phải là vè. Là “cái gì đó” thì tùy độc giả chọn tên.

Như vậy gọi thơ của Thái Bá Tân là “vè thời đại” có đúng không? Theo tôi, gọi thế là không đúng. “Thơ” Thái Bá Tân có hai loại:

Loại đúng là thơ như: Mắng Con, Lời Nhắn Của Ông Thiệu, Thương Dân Hà Nội Gốc … thì phải gọi là thơ.

Loại “không phải thơ” như: Nói Thẳng, Trí Thức, Khẩu Hiệu, Gửi Bác Trọng, Cách Chức, Không Muốn Mà Phải Nói, Phạm Nhật Vượng, Không Lấy Chồng Việt Nam, Đừng Dây Với Việt Nam … thì miễn đừng gọi nó là thơ, còn gọi là “cái gì đó” thì tùy mỗi người. 


     2/ Chia sẻ cảm xúc, tâm trạng:

Đây là tâm thái mà thi sĩ đã viết ra đại đa số những bài thơ ta thường gặp. Tùy “tay nghề”, tùy trình độ kỹ thuật thơ, tùy mức độ cao hứng, lượng cảm xúc trong bài thơ nhiều ít khác nhau.


     3/ Nổi điên lên, xả hết dồn nén, uất ức, chất chứa trong lòng (Get it off your chest):

Đây là loại tâm thái mà người bình thơ mỏi mắt trông chờ. Ở vào trạng thái tâm này thi sĩ nói vung tít mẹt không còn giữ ý, giữ tứ, không còn e ngại, sợ sệt. Cái tôi văn hóa bị lùa đi chỗ khác chơi để cái tôi đích thực trọn quyền đạo diễn bài thơ. Nếu kỹ thuật thơ đạt tới một trình độ nào đó, bài thơ sẽ có hồn, lời thơ sẽ là tiếng lòng chân thật. Độc giả nếu may mắn đọc bài thơ sẽ được vinh dự giao tiếp với tác giả bằng thứ Tiếng Người (viết hoa) mà vì mải mê tự điều chỉnh mình để phù hợp với cuộc sống của xã hội văn minh, ông (bà) đã quên mất từ lâu. Bài thơ như thế đã đạt được phần thưởng cao quý - được bước vào Bến Bờ Thơ Ca.

Chỉ có một số rất ít bài thơ loại này như: Hồ Trường (Nguyễn Bá Trác), Say Đi Em (Vũ Hoàng Chương), Trái Tim Rao Bán (Đinh Thị Thu Vân), Tạ Lỗi Trường Sơn (Đỗ Trung Quân), Nhìn Từ Xa … Tổ Quốc  (Nguyễn Duy) …

Vè Thì Khác

Người viết vè không tranh biện và cũng không xả bầu tâm sự. Họ vận dụng vốn kiến thức và khả năng chọn chữ xếp vần giới hạn của mình nắm bắt nhạy bén sự việc, sự kiện, ghi nhanh rồi truyền đi để gây dư luận.

Kết Luận

Tôi không có ý phân định thắng thua với bác Vũ Nho nên chỉ trình bày một số góc cạnh của vấn đề để độc giả tự rút ra kết luận.

Cũng cần phải công nhận tôi đã sai khi viết “Trong vè ý tưởng bừa bộn”. Lỡ bấm vào chỗ “xuất bản” rồi nên khi đọc kỹ lại thấy sai cũng không sửa chữa được. Nhưng dù có sai vì lý do gì đi nữa thì cũng là sai. Bác Vũ Nho sửa lưng tôi là đúng.

Tuy nhiên, dù trong vè ý tưởng không bừa bộn đi nữa, về “thế trận chữ nghĩa”, đấu pháp toàn đội, vè vẫn không thể sánh với thơ. Tôi xin phép độc giả được lập lại lần nữa đoạn viết về sự khác biệt ấy.

“Đội bóng vè”, vì thời gian gấp rút, tiếp nhận cầu thủ một cách vội vàng, thiếu huấn luyện, thao dợt nên dàn cầu thủ thô ráp, xô bồ, trong khi “đội bóng thơ”, không bị áp lực thời gian, tuyển lựa cầu thủ kỹ càng hơn, được huấn luyện, thao dợt để có sự ăn ý với đồng đội, sau đó còn tuyển đi chọn lại trước khi ra sân thi đấu. Nói rõ hơn, “đội bóng vè” là đội thành lập vá víu để đá “chầu”, đá theo “phong trào”, “đội bóng thơ” là đội tuyển, đã có tính chuyên nghiệp..

Thêm vào đó, những thủ pháp nghệ thuật của thơ (ẩn dụ toàn bài, “Gợi, Không Kể”), những đấu pháp toàn đội (cấu tứ) đặc biệt để tạo bất ngờ, tăng sức hấp dẫn cho “lối đá” của các “đội bóng thơ” – do không đủ thời gian và trình độ của “huấn luyện viên” chưa “tới” – nên các “đội bóng vè” đành cho qua.

Trở lại Đồng Dao Cho Người Lớn, theo Đỗ Trọng Khơi, nó là bài đồng dao, một loại vè. Nói như thế không sai nhưng cũng chưa hoàn toàn chính xác. Sau khi xem xét, soi mói, từng chữ, từng câu cũng không tìm thấy tý cảm xúc nào từ cái tôi riêng tư của tác giả nên tôi có thể vững bụng nói rằng nó là thứ cây dị chủng trong vườn thơ. Còn muốn đặt cho nó cái tên chủng loại gì đó thì tùy mỗi người.

Một lần nữa, cám ơn bác Vũ Nho đã cho tôi có cơ hội trao đổi với bác về một để tài lý thú.


                    TRAO ĐỔI VỀ “BÀI THƠ” ĐỒNG DAO CHO NGƯỜI LỚN

                                          (Tiếp theo và hết)

TS Vũ Nho

Anh Phạm Đức Nhì đã công phu tra cứu về thể loại VÈ. Nhưng công phu quá, anh lại bỏ quên bài "Đồng dao cho người lớn" của Nguyễn Trọng Tạo. Tôi không quá câu nệ vào những gì mà người ta đã viết thành sách này, sách kia. Nếu vè nghiêng về tự sự (kể chuyện), thì ĐDCNL có chuyện gì? Nếu người đặt vè là trình độ văn hóa thấp (nói thế cũng là nói lấy được, vì khối ông quan, ông cử, ông tú về sống giữa dân chúng, họ vừa là tác giả THƠ, cũng lại là tác giả VÈ). Và tôi đố anh Nhì dám bảo tác giả Nguyễn Trọng Tạo là "văn hóa thấp". Nếu bảo tác giả vè không thạo "đấu pháp toàn đội" của THƠ, thì cũng không đúng với Nguyễn trọng Tạo, vì bản thân anh Tạo là nhà thơ có thành tựu. Nói tóm lại, anh Nhì có thể không thích bài ĐDCNL, đấy là quyền của anh. Nhưng cố chứng minh ĐDCNL là VÈ để chê bai thì không thuyết phục!


Phạm Đức Nhì

Vè Truyền Thống

1/ Những người đặt vè, bẻ vè, nói vè phần nhiều thuộc tầng lớp dưới trong xã hội. Vẫn có một số “ông này, ông kia” nhưng rất ít.

2/ Vè là chuyện khen chê có ca vần; chuyện xuất hiện tức thời, mang tính thời sự, tác giả nắm bắt nhạy bén sự việc, sự kiện, ghi nhanh rồi truyền đi để gây dư luận.

3/ Ngôn ngữ vè mộc mạc, đơn giản, không có đủ thời gian cần thiết để đạt tới một hình thức trau chuốt, hoàn chỉnh.

4/ Kết quả là phần lớn các bài vè có vận mệnh ngắn ngủi.

Tôi xin phép được gọi những bài vè mang đặc tính này là vè truyền thống.


Đồng Dao Cho Người Lớn

1/ Nếu cắt mỗi câu làm hai thì ĐDCNL sẽ có nhịp bốn chữ. Đỗ Trọng Khơi viết “Đồng Dao của Nguyễn Trọng Tạo viết ở nhịp 8 chữ nhưng soi chẻ rạch ròi vẫn thấy cái dư khí của hồn bốn chữ dân gian là có ý đó. Như vậy, ĐDCNL có hình thức là bài đồng dao.

2/ Đồng dao là một loại vè nên nếu bảo ĐDCNL có hình thức giống một bài vè cũng có thể đúng.

3/ ĐDCNL không có cái tôi riêng tư của tác giả (một đặc điểm của vè truyền thống) nên chắc chắn không phải là thơ. Lập luận cho rằng Nguyễn Trọng Tạo mượn hình thức đồng dao để làm thơ cũng không có chỗ đứng.

4/ Nhưng ĐDCNL cũng không phải vè truyền thống vì 3 lẽ:

     a/ Nội dung không mang tính thời sự mà chỉ là một tập hợp “hổ lốn” những câu nói mang tính triết lý về cuộc đời.
     b/ Tác giả không phải tầng lớp thấp trong xã hội
     c/ Ngôn ngữ không thô ráp, mộc mạc mà tương đối trau chuốt, đẹp một cách sang trọng.

Như vậy, ĐDCNL không phải là thơ, có hình thức vè nhưng không phải là vè truyền thống, cũng không phải là “vè thời đại” như có người gọi “thơ” Thái Bá Tân.
Dựa vào hình thức của “bài thơ” và đặc điểm không có cái tôi riêng tư của tác giả để gọi ĐDCNL là vè (như tôi trong bài viết Về “Bài Thơ” Đồng Dao Cho Người Lớn) là có phần gượng ép vì không hoàn toàn chính xác.

Ở đây tôi chỉ nhấn mạnh ĐDCNL không phải là thơ. Còn gọi nó là gì thì tùy cao kiến của độc giả.

Một Bài Khác Nữa

Tôi đọc khá nhiều “thơ” Thái Bá Tân thì thấy số lượng những bài “không phải thơ” lại nhiều hơn thơ đích thực. Tôi vào thivien.net để đọc thêm một số thơ của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo, với hy vọng có thể kết luận ĐDCNL chỉ là trường hợp cá biệt. Trong số 438 bài thơ của ông ở trang web này tôi mới đọc đến bài thứ 35 thì “gặp” một bài “không phải thơ” nữa. Xin copy xuống dưới đây để trình làng.

CHÚ MÈO ĐI HỌC

Mèo mẻo mèo meo
Chú mèo đi học
Áo quần trắng muốt
Đôi giày xanh xanh
Chân chú bước nhanh
Bên dòng mương nhỏ.

Gặp bông hoa đỏ
Mèo mải ngắm nhìn
Gặp chú chuồn kim
Chơi trò đuổi bắt
Gặp chim sắt sặt
Gây chuyện cãi nhau
Trèo tít cành cao
Chim vù bay mất...

Chú mèo bực tức
Lao mình đuổi theo
Sẩy chân té nhào
Mực giây bẩn áo...

Mèo ta mếu máo
Chạy vội tới trường
Vừa buổi học tan
Bạn bè rảo bước...
Tất cả cùng thuộc
Bài hát rất hay
Chú mèo mải chơi
Muốn hoà giọng hát
Nhưng chú chỉ biết
Meo mẻo
Mèo meo...

Tác giả quan sát chú mèo trắng dạo chơi và đem trí tưởng tượng phong phú của mình vẽ thêm hoa hòe hoa sói để giúp vui cho các cháu thiếu nhi. Chú Mèo Đi Học – dù là sự biểu lộ một tấm lòng đáng quý đối với tuổi thơ - chỉ là sản phẩm của lý trí, không có một mảy may cảm xúc của cái tôi riêng tư. Nó cũng “không phải thơ” mà là một thứ cây dị chủng trong vườn thơ.

Thi sĩ làm thơ mà không để ý rất dễ mắc lỗi này. Thay vì chia sẻ với độc giả cảm xúc, rung động của mình đối với cảnh thơ, ngài lại cho lý trí độc quyền đạo diễn. Phần lớn “thơ” của Thái Bá Tân và một vài bài của Nguyễn Đức Tùng là những thí dụ điển hình. (1)

Tôi viết loạt bài về phân biệt thơ hay “không phải thơ” như một lời cảnh báo. Tôi không muốn phải thấy những tài thơ, còn non trẻ hay đã chin mùi, bỏ tâm huyết, công sức vào một tứ thơ độc đáo, mà vì một lỗi lầm (có thể tránh được) biến đứa con tinh thần của mình, lẽ ra sẽ là một bài thơ hay lại trở thành một thứ cây dị chủng trong vườn thơ. Như thế uổng phí lắm.

Bác Vũ Nho nói  “… bản thân anh Tạo là nhà thơ có thành tựu”. Tôi hoàn toàn không phủ nhận điều đó.  Ngay cả khi đang viết những dòng chữ này, lòng kính trọng và sự nể phục của tôi đối với thanh tựu (về thơ) của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo cũng không hề thay đổi.

Bình thơ, tôi không chủ ý “nâng” hay “hạ” thi sĩ mà chỉ dốc lòng tìm công lý cho thơ.

TS Vũ Nho

Cám ơn tác giả Phạm Đức Nhì đã trao đổi thẳng thắn.

Nói tóm lại, việc cảm nhận bài thơ "Đồng dao cho người lớn" gây ra sự tranh luận vì anh Nhì đã coi bài thơ của Nguyễn Trọng Tạo là một bài VÈ. Và ra sức chê bai vè. Nhưng Vè là thể loại văn học dân gian, có chức năng riêng. Không thể đem thơ dở gán cho vè để chê. Một thể loại văn học dân gian khác xa với một bài thơ có tác giả, dù là mượn hình thức "đồng dao". Bởi thế nên anh Nhì đã thấy được sự không chính xác của mình trong kết luận "Ở đây tôi chỉ nhấn mạnh ĐDCNL không phải là thơ. Còn gọi nó là gì thì tùy cao kiến của độc giả". Bài đồng dao đó có phải là THƠ không, đó là tùy quan niệm của mỗi người. Nó hay hoặc dở, cũng tùy vào độc giả! Vậy là có thể khép lại cuộc thảo luận này. Một lần nữa trân trọng cám ơn anh Phạm Đức Nhì!

Phạm Đức Nhì

Cám ơn bác Vũ Nho đã trao đổi với tôi về một đề tài lý thú. Nhờ thế tôi đã "thấy ra" vài điều bổ ích. Chúc bác vui khỏe.


CHÚ THÍCH:
1/ Ngoài bài thơ Em Còn Trẻ Và Em Không Thể Biết tôi còn thấy có 2 bài nữa là Sống và Đàn Ông