Thứ Bảy, 16 tháng 7, 2016

TRANH LUẬN VỀ HAI CÁI BẪY NGUY HIỂM CỦA NHỚ RỪNG


               TRANH LUẬN VỀ “HAI CÁI BẪY NGUY HIỂM CỦA NHỚ RỪNG”

 Bài 1: HAI CÁI BẪY NGUY HIỂM CỦA “NHỚ RỪNG”
(Nhân đọc mấy bài bình Nhớ Rừng trên vài trang web tiếng Việt)

Muốn khuyên người dân xài hàng nội hoá một cô khá đẹp, giữ chức vụ cao trong chính phủ, khi trả lời phỏng vấn đã viện dẫn hai câu ca dao:

      Ta về ta tắm ao ta

        Dù trong, dù đục ao nhà vẫn hơn”

Cô này liền bị một đấng mày râu chơi xỏ: “Xin nghiêng mình kính phục cái tinh thần tự lực cánh sinh, độc lập tự chủ của cô. Chỉ tiếc rằng một người đẹp như cô lại chấp nhận… ở dơ.” (Dù trong dù đục ao nhà vẫn … tắm) Phép ẩn dụ của câu ca dao trên không kín kẽ, không che chắn được hết mọi bề nên nàng yểu điệu thục nữ kia đành phải ngậm bồ hòn làm ngọt.
 
Bài thơ Ngọn Cỏ (1) cũng thế. Chọn cái tư thế đứng đái của phụ nữ để ngụ ý rằng phụ nữ có thể sánh vai cùng nam giới, bình đẳng với nam giới, là một phép ẩn dụ rất hay, rất ý nhị nhưng không kín kẽ, giống như thuốc chữa được bệnh nhưng lại có phản ứng phụ.

Phép ẩn dụ biến thể của Nhớ Rừng cũng có 2 phản ứng phụ. Đó là 2 cái bẫy đối với những ai yêu thích nó. Những ai mê cái chí lớn, cái khẩu khí Chúa Sơn Lâm của con hổ rất dễ sập 2 cái bẫy này.

     1/ Con hổ trong vườn bách thú tuy vẫn khao khát tự do, vẫn mơ “giấc mộng ngàn to lớn” nhưng đã mất hết ý chí chiến đấu, đã đành bó tay cam chịu, chấp nhận thực tại phũ phàng.

Hỡi oai linh, cảnh nước non hùng vĩ!
Là nơi giống hùm thiêng ta ngự trị,
Nơi thênh thang ta vùng vẫy ngày xưa
Nơi ta không còn được thấy bao giờ!


Đó là thái độ tuyệt vọng, cam chịu, rất thực tế, biết mình biết người, rất đúng với hoàn cảnh của con hổ trong vườn bách thú.

     2/ Con hổ khao khát tự do. Nhưng nếu được tự do nó sẽ trở thành một bạo chúa, áp dụng chế độ độc tài với “thần dân” của nó.

Trong hang tối, mắt thần khi đã quắc
Là khiến cho mọi vật đều im hơi.
Ta biết ta chúa tể muôn của loài


Cái tính muốn làm bạo chúa đã là máu thịt, đã là bản chất của loài hổ. Đó là một thực tế không thể chối cãi.

Cái khe hở của câu ca dao và Ngọn Cỏ nằm ở vế thứ nhất (tứ). Khe hở của Nhớ Rừng nằm ở vế thứ hai (ý), thông điệp kín mà tác giả muốn gởi đến, muốn nó thấm vào tâm hồn độc giả. Trong hoàn cảnh khắc nghiệt của cuộc sống - đặc biệt là của người dân Việt Nam, luôn luôn phải chịu cách đối xử áp bức, trịch thượng, bất công của ngoại bang – thái độ tuyệt vọng, cam chịu, không còn muốn chiến đấu rất dễ thuyết phục người dân, rất dễ thấm vào đầu họ bởi không đòi hỏi phải nỗ lực, nhấc tay nhấc chân, không phải đối diện với nguy hiểm, mất mát, tù tội, chết choc, hy sinh, cứ lặng lẽ sống cam chịu ngày này qua ngày khác.

Đối với tinh thần vương tướng, độc tài thì khỏi nói. Ý niệm dân chủ tự do chỉ mới xuất hiện trên bình diện chữ nghĩa. Người dân Việt chưa được sống trong một xã hội, một chính quyền thực sự dân chủ tự do. Khi thời cơ đến, người ta khó tránh khỏi sức cám dỗ của chức vị Chúa Sơn Lâm, thâu tóm quyền hành tuyệt đối về phe nhóm mình. 

Là con người, liệu “Ta có chấp nhận thái độ cam chịu, buông xuôi, tuyệt vọng như con hổ không?” Khi được thoát cũi xổ lồng ta có giống con hổ trở thành ông vua độc tài chà đạp tự do của người khác không? Nếu câu trả lời là Không thì hãy đọc Nhớ Rừng như một bài thơ hay, diễn tả hùng khí và tâm trạng tuyệt vọng của con hổ trong vườn bách thú. Đừng “ghé” vào, hoặc xúi bảo con cháu “ghé” vào bài thơ để “dây máu ăn phần”, để được “ké” tý hùng khí của nó. Cái giá phải trả để có tý hùng khí đó - đặc biệt với lớp trẻ - là rất đắt. Không thể nói ta chỉ “thưởng thức” cái chí lớn của con hổ, còn những tính xấu của nó thì ta lờ đi. Những tính xấu đó đã là máu thịt của con hổ (đặc biệt là con hổ trong vườn bách thú), đã thấm đẫm vào bài thơ, làm sao có thể tách rời ra được.

Nhớ Rừng giống như cô gái nhảy xinh đẹp, thân hình sexy, hấp dẫn nhưng mắc chứng bệnh SIDA nguy hiểm. Chứng bệnh này không có những biểu hiện rõ rệt ở bên ngoài nên rất khó nhận biết bằng mắt thường. Ai ham hố “dính vào” để được hưởng lạc thú ái ân với cô thì sẽ nhiễm HIV. Vi khuẩn HIV sẽ tiềm ẩn trong máu, đến một lúc nào đó sẽ bộc phát và hậu quả sẽ khó lường.

Không biết từ lúc xuất hiện và được ngợi ca đến nay Nhớ Rừng đã khiến bao nhiêu người sập bẫy. “Cẩn tắc vô áy náy”. Hãy coi đoạn văn ngắn này như một lời cảnh báo … muộn màng.

Phạm Đức Nhì

Chú Thích:

1/ Xem Ngọn Cỏ Một Bài Thơ Hay? của Phạm Đức Nhì (t-van.net)

 

Bài 2: KHÔNG SỢ THỪA! CHỈ SỢ QUÁ MUỘN
(Trao đổi với nhà văn Lê Xuân Quang về bài thơ Nhớ Rừng)

Được người bạn cho biết là có “lời bình” liên quan đến bài viết Hai Cái Bẫy Nguy Hiểm Của Nhớ Rừng, tôi, theo lời chỉ dẫn vào trang web của nhà văn Lê Xuân Quang (lexuanquang.org). Ở đây tôi thấy nguyên văn bài viết của mình với một đoạn lời bình của nhà văn LXQ như sau:

 LXQ: Cách suy nghĩ phân tích Thơ của ông Phạm Đức Nhì trong cảm thụ Thi ca có những’’phát kiến…mới’’ thiên về thực dụng chỉ nên dành cho nhà khoa học, sinh học, văn sĩ , nhà báo… Theo đó, con Hổ vốn dĩ là kẻ ác, cứ để nó chết trong cũi, cho nó ra là sẽ tiếp tục ăn thịt  kẻ khác và thành’’kẻ độc tài… (toàn trị)’’, gây tai họa cho người …

Ca dao, Thơ vốn dĩ kiệm lời lại đòi hỏi người thưởng thức phải cảm thụ bằng sự rung động của nhịp tim để kích thích trí tưởng tượng phong phú trong mỗi bộ não. ’’Dù trong dù đục’’ chỉ là ẩn dụ không phải trong đục cụ thể ở nước để…tắm. Con hổ bị giam nhốt chi là vật hình tượng nói về TỰ DO, KHÔNG PHẢI CON HỔ CHÚA SƠN LÂM NGOÀI ĐỜI… Thiết nghĩ’’cảnh báo’’ của nhà phê bình Phạm Đức Nhì trở nên thừa, thậm chí lạc ra ngoài biên của tư tưởng của Thi sĩ trứ danh Thế Lữ khi ông gửi gắm nỗi niềm trong bài thơ NHỚ RỪNG !

  Đọc xong đoạn lời bình dẫn nhập của nhà văn LXQ tôi có mấy nhận xét sau đây:
      1/ Ông đăng kèm cả bài viết của tôi với lời bình. Đó là cách đối xử rất công bằng với người được (bị) phê bình. Một số nơi khác có khi người ta chỉ trích dẫn một vài đoạn để phân tích rồi bình phẩm.

      2/ Ông đặt đoạn lời bình ở phía trước nên người đọc đã bị ông “đầu độc” trước khi đọc bài viết của tôi. Đó là thủ thuật hơi “ác” nhưng theo tôi, vẫn chấp nhận được, vì xét về lý, không phạm luật tranh biện.

     3/ Những điểm cần phê bình ông chỉ ra rất cụ thể, rõ ràng, và nhận định của ông thẳng thắn, dứt khoát.
     4/ Lời lẽ, giọng điệu của lời bình rất lịch sự, hòa nhã.

Lời bình của ông có thể tóm tắt thành 3 điểm chính:
     1/ “Dù trong dù đục” chỉ là ẩn dụ, không phải trong đục cụ thể ở nước để … tắm.

     2/Con hổ giam nhốt chỉ là vật hình tượng nói về Tự Do, Không Phải Con Hổ Chúa Sơn Lâm Ngoài Đời.

     3/ Thiết nghĩ “cảnh báo” của nhà phê bình Phạm Đức Nhì trở nên thừa, thậm chí lạc ra ngoài biên của tư tưởng của thi sĩ trứ danh Thế Lữ khi ông gởi gắm nỗi niềm trong bài thơ Nhớ Rừng.
Và bây giờ tôi xin trao đổi với ông Lê Xuân Quang từng điểm một:

     1/ “Dù trong dù đục” chỉ là ẩn dụ, không phải trong đục cụ thể ở nước để … tắm.
Nói nôm na cho dễ hiểu thì ẩn dụ - ở đây là ẩn dụ toàn bài - là “nói cái này mà ngụ ý cái kia”.

     Thí dụ 1:
                     Bầu ơi thương lấy bí cùng
                     Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn

Cái được nói đến (cái này): bầu và bí chung một giàn, nương nhau mà sống.
Cái được ngụ ý (cái kia): người trong một cộng đồng, một nước phải nương nhau, yêu thương nhau để cùng chung sống trong hòa bình,

Phép ẩn dụ ở đây kín kẽ vì:
   -          Hiểu theo nghĩa đen (cái này: bầu bí chung một giàn, nương nhau mà sống) cũng đúng, cũng hợp lý.
   -          Hiểu theo nghĩa bóng (cái kia: người trong một cộng đồng, một nước phải nương nhau, yêu thương nhau để cùng chung sống trong hòa bình, đùm bọc) cũng hợp tình, hợp lý.
   -          Cái này hoàn toàn ăn khớp, tương xứng với cái kia

     Thí dụ 2:
                    Thân em như quả mít trên cây
                    Da nó xù xì múi nó dầy
                    Quân tử có thương thì đóng cọc
                    Xin đừng mân mó nhựa ra tay.
                     (Quả Mít, Hồ Xuân Hương)

Nữ sĩ Hồ Xuân Hương kiêm diễn viên xiếc trổ tài đi dây; một sợi dây bên Quả Mít và sợi dây bên kia là cái chuyện “ấy” của trai gái mà bà muốn bóng gió nói đến. Ngoài câu mở đầu có tính chất giới thiệu, 3 câu còn lại đều diễn tả những bộ phận và hành động rất tương xứng của hai bên. Quả mít thì da xù xì, múi dầy; bộ phận quý giá nhất của phụ nữ cũng thế. Với quả mít “quân tử có thương thì đóng cọc”; chuyện “ấy” của trai gái cũng y chang. Quả mít khuyên “xin đừng mân mó nhựa ra tay” thì khi trai gái yêu nhau “nếu mân mó ắt hẳn nhựa cũng sẽ ra tay”, nghĩa là rất tương hợp. Bà Hồ Xuân Hương đã thành công mỹ mãn trong màn xiếc đi dây của mình. Phép ẩn dụ của bài thơ rất tuyệt.

Trong hai thí dụ trên, tác giả đã chọn được cái này cân xứng, tương hợp với cái kia. Hiểu theo nghĩa đen cũng hợp nghĩa, hợp lý, hợp tình. Mà suy tưởng qua nghĩa bóng cũng rất hợp tình, hợp lý. Không có chỗ hở để vặn vẹo, bắt bẻ. Đây là những phép ẩn dụ hoàn hảo.
Bây giờ trở lại câu ca dao:

                    Ta về ta tắm ao ta
                    Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn
Nghĩa đen: dù trong dù đục về tắm ao nhà vẫn hơn.
Nghĩa bóng: dù tốt, dù xấu cũng nên dùng hàng nội hóa (không dùng hàng ngoại) để giúp kinh tế nước nhà phát triển.

Nghĩa đen và nghĩa bóng (cái này và cái kia) rất tương xứng nhưng trong đời sống thực tế thì lại không hợp tình. Ao nhà bẩn quá thì cũng phải muối mặt đi tắm nhờ chứ cứ lao bừa xuống tắm, có ngày mắc bệnh … ghẻ. Hàng nội mà xấu quá, tệ quá thì cũng đành - bỏ chuyện kinh tế nước nhà qua một bên - đi mua hàng ngoại chứ ai dại gì bỏ tiền ra mua thứ vừa xấu mã vừa kém phẩm chất, chưa dùng đã hỏng.
Phép ẩn dụ này không kín kẽ, dễ bị bắt bẻ, vặn vẹo.
Như vậy “dù trong dù đục” là ẩn dụ (thật ra phải nói là nghĩa bóng mới đúng) nhưng cũng là trong đục cụ thể ở nước để … tắm (nghĩa đen)

     2/ Con hổ giam nhốt chỉ là vật hình tượng nói về Tự Do, Không Phải Con Hổ Chúa Sơn Lâm Ngoài Đời.
Nhà thơ Thế Lữ mượn lời con hổ (bị giam nhốt) trong vườn bách thú để “gửi gắm nỗi niềm” nên chúng ta có phép ẩn dụ:
     Cái được nói đến: lời con hổ trong vườn bách thú.
     Cái được ngụ ý: nỗi niềm của tác giả.

Như vậy con hổ ở đây là con hổ thật nhưng không phải con hổ Chúa Sơn Lâm ngoài đời mà là con hổ trong vườn bách thú và tác giả đã mượn nó làm hình tượng nói về Tự Do.

3/ Thiết nghĩ “cảnh báo” của nhà phê bình Phạm Đức Nhì trở nên thừa, thậm chí lạc ra ngoài biên của tư tưởng của thi sĩ trứ danh Thế Lữ khi ông gởi gắm nỗi niềm trong bài thơ Nhớ Rừng.
Bài thơ Nhớ Rừng có ngôn ngữ cao sang. Cả 47 câu thơ, câu nào cũng đúng, cũng hợp với khẩu khí của con hổ. Từ tâm trạng bực bội vì bị xếp ngang hàng với những loài hèn kém trong khung cảnh gò bó, tù túng của cũi sắt vườn bách thú đến nỗi nhớ thương tiếc nuối những ngày còn là Chúa Sơn Lâm trong rừng sâu núi thẳm. Từ niềm uất hận phải sống giữa cảnh trí tầm thường giả dối do con người sắp đặt đến thái độ bó tay cam chịu nhưng vẫn khao khát tự do trong “giấc mộng ngàn to lớn”. Nhất nhất cứ như con hổ thật, biết nói tiếng người, đang tâm sự với độc giả. Cảm xúc dạt dào, hơi thơ rất mạnh khiến dòng thơ cứ băng băng tuôn chảy.

Nếu là bài bình thơ thì tôi sẽ phân tích kỹ hơn, nhưng ở đây tôi chỉ xin nói đến hai điểm “xấu”, hai thái độ tiêu cực của con hổ.

     1/ Con hổ hoàn toàn buông tay, tuyệt vọng.

       Đây là lời con hổ:
Hỡi oai linh, cảnh nước non hùng vĩ!
Là nơi giống hùm thiêng ta ngự trị,
Nơi thênh thang ta vùng vẫy ngày xưa
Nơi ta không còn được thấy bao giờ!

Nỗi niềm khao khát tự do của con hổ rất kỳ lạ. Thích tự do nhưng không tìm, không có kế hoạch để xin, để đòi tự do, để vượt ngục. Cứ lặng lẽ ngồi mơ, mong một phép mầu nào đó xảy ra. Nếu Thế Lữ viết: “Nơi ta chắc không còn thấy bao giờ” thì còn có chút hy vọng, dù rất mong manh. Đàng này lại là “Nơi ta không còn được thấy bao giờ” – nghĩa là khẳng định 100%; con hổ đã hoàn toàn tuyệt vọng, xuôi tay cam chịu. Đây rõ ràng là lời thơ Thế Lữ, nỗi niềm của Thế Lữ cho nên ông LXQ gán cho tôi cái tội “lạc ra ngoài biên tư tưởng…” là ông đã đổ oan cho tôi rồi đấy.

     2/ Con hổ lúc nào cũng mơ “giấc mộng ngàn to lớn”

Cái tính ham hố địa vị, quyền hành, lúc nào cũng mơ tưởng đến cái thời còn là Chúa Sơn Lâm, cai quản cả một vương quốc núi rừng rộng lớn đã nằm trong máu thịt, xương cốt của con hổ. Chính Thế Lữ cũng đã cho con hổ nói lên tâm sự của nó:

               Trong hang núi mắt thần khi đã quắc

               là khiến cho mọi vật đều im hơi

               ta biết ta chúa tể của muôn loài

Đó là cái tính lúc nào cũng muốn ra oai, sẵn sàng lấn lướt, hiếp đáp người khác. Và đó cũng rõ ràng là những câu thơ trong Nhớ Rừng, là nỗi niềm của Thế Lữ. (Ông LXQ thấy đấy! Tôi vẫn dựa vào văn bản để nói, phân tích chứ không hề đi “lạc ra ngoài biên tư tưởng …”)

Tóm lại, Nhớ Rừng là bài thơ hay; hay về ngôn ngữ, kỹ thuật, về cảm xúc. Riêng về ý tưởng thì lại là chuyện khác. Nếu bảo Thế Lữ đã gởi gắm nỗi niềm vào con hổ trong vườn bách thú thì ông đã “trao duyên lầm kẻ xấu”. Con hổ này chí khí thì không có gì ghê gớm. Chỉ được cái giọng điệu, thái độ cao ngạo vì đã có một thời làm vương, làm tướng – không phải do tài năng mà là nhờ “con ông cháu cha”, nhờ huyết thống, nòi giống của mình. Bị giam hãm thì lúc nào cũng tiếc nuối quá khứ, mơ “giấc mộng ngàn to lớn”, được trở lại làm Chúa Sơn Lâm hét ra lửa, mửa ra khói nơi núi rừng nhưng lại hèn nhát buông tay cam chịu, không hề có ý định chứ đừng nói gì đến quyết tâm đào thoát tìm tự do.

Mấy tuần qua nước Mỹ rúng động vì cuộc vượt ngục của hai tù nhân giết người trong một trại giam an ninh cực cao ở New York. Sau hơn 3 tuần lễ truy đuổi, một bị bắn chết và một bị bắt lại. Chi phí cho việc truy đuổi được ước tính lên đến trên 1 triệu đô la mỗi ngày (1). Tôi hoàn toàn lên án tội ác của hai tù nhân này và muốn họ phải tiếp tục chịu hình phạt như công lý đã xét xử. Nhưng nếu nói về niềm khao khát tự do thì họ đã hơn hẳn con hổ, cái hình tượng tự do (chữ của ông LXQ) của Thế Lữ; họ đã tìm tay trong giúp đỡ, thu góp dụng cụ cần thiết, chuẩn bị kế hoạch và cuối cùng đã dám đem sinh mạng của mình để đổi lấy tự do.

Giai đoạn còn đi làm chế biến hải sản (seafood), những lúc không có hàng nằm nghỉ dài dài ở nhà tôi thường làm thơ, đọc sách và xem phim. Cuốn phim tôi thích nhất, xem đi, xem lại nhiều lần nhất là Bố Già (The Godfather). Khi phát hành (năm 1972) Bố già đã trở thành bộ phim ăn khách nhất tính cho đến thời điểm đó với doanh thu hơn 5 triệu USD trong tuần đầu và hơn 81 triệu USD cho lần phát hành đầu tiên, 134 triệu USD cho lần phát hành tiếp theo. Bố G đã giành được 3 giải Oscar, 5 giải Quả Cầu Vàng, 1 giải Grammy và nhiều giải khác. Sau này bộ phim được coi là một trong những tác phẩm hay nhất của lịch sử điện ảnh. (2)

Khoảng 7, 8 năm trước và rồi đầu năm nay (2015), khi phim Bố Già được chiếu đi chiếu lại liên tục, có khi suốt ngày (marathon) ở giữa có cả phần phát biểu của các diễn viên chính và những người liên quan đến việc sản xuất bộ phim, tôi ghi nhận được một chi tiết lý thú. Đó là sau khi Bố Già được trình chiếu một thời gian, báo chí đã tiết lộ những số liệu của chính phủ cho biết “tệ nạn băng đảng đã gia tăng ở mức độ đáng lo ngại.” Số lượng băng đảng nhiều hơn trước. Các băng đảng lớn mạnh hơn, tổ chức chặt chẽ hơn. Thành viên của mỗi băng đảng đông hơn, trong đó con số thành viên mới đã tăng trưởng mạnh mẽ hơn rất nhiều. 

Ai cũng biết băng đảng là xấu xa, tội lỗi. Bước vào là tay dính chàm, phạm đủ loại tôi ác. Từ tống tiền, kinh doanh khách sạn, sòng bài, cá độ, đĩ điếm … đến giết người, có khi hàng loạt, kể cả anh em ruột thịt (Gia đình Ông Trùm Corleon không dính đến ma tuý). Rồi còn tù tội chết chóc lúc nào cũng rình rập, đợi chờ, mặc cảm tội lỗi lúc nào cũng ám ảnh lương tâm. Như vậy tại sao đám thanh niên trẻ - sau khi xem Bố Già - lại hăng hái gia nhập các băng đảng Mafia? Sức hấp dẫn của Bố Già ở chỗ nào? Một số nhà báo đã đưa ra mười mấy lý do. Tôi chỉ xin ghi ở đây vài lý do chính:  
      -          Giúp đỡ người cô thế, yếu đuối.
      -          Đãi ngộ tốt những người làm việc cho mình.
      -          Đã hứa là giữ lời.
      -          Coi gia đình là quan trọng nhất.
      -          Thiết lập tình bằng hữu bằng sự tôn trọng, công việc và lòng tin.
      -          Không hành động theo cảm tính.
      -          Vũ lực là lựa chọn sau cùng.
      -          ………………………
Trong phim đạo diễn đã khéo léo phô diễn những tính tốt, tính anh hùng mã thượng của Ông Trùm. Mặt trái của Mafia xuất hiện ít hơn.
Là một nước mà Tự Do Ngôn Luận được tôn trọng và bảo vệ tối đa, chính phủ Mỹ đã không có quyền thu hồi hoặc cấm chiếu phim Bố Già (dù rất muốn) với lý do là nó đã tác hại đến vấn đề tội phạm của quốc gia. Nhà chức trách đã phải tìm một giải pháp khác. Đó là gợi ý (hoặc ngầm yểm trợ) để giới phim ảnh làm những bộ phim khác lột trần bộ mặt thật của Mafia để giải độc. Những bộ phim GoodFellas (3). The Making of the Mob (Sự Hình Thành Của Mob) (4) … được sản xuất đã có hiệu quả này.
Nhớ Rừng của Thế Lữ cũng gần giống như vậy. Cái tốt, cái xấu lẫn lộn. Cái tốt được tài thơ của tác giả hết sức phô trương. Cái xấu khá mờ nhạt, phải để ý kỹ mới thấy. Nhưng được dòng cảm xúc thơ chuyển tải, nó có khả năng thấm dần vào tim óc người đọc. Tôi không biết là có thực sự có không, cái quan hệ nhân quả giữa “nọc độc của Nhớ Rừng” với cách ứng xử của con người Việt Nam, bởi chưa có ai quan tâm nghiên cứu về vấn đề này.
Nhưng qua việc theo dõi tin tức về quê hương Việt Nam hàng ngày, có khi hàng giờ, qua mấy lần về Việt Nam, mỗi lần hàng mấy tháng, đi từ nam ra bắc, tiếp xúc với đủ hạng người - từ nghèo khổ, thất học đến những người giầu có, bằng cấp cao, có chức tước trong chính quyền - tôi đã cảm thấy một điều đáng sợ. Nhiều người Việt Nam không phải chỉ mới nhiễm HIV mà chứng bệnh SIDA Nhớ Rừng - cả loại 1 lẫn loại 2 - đã phát tác, đã tàn phá, không phải thể xác mà là tâm hồn họ và có thể đã lây lan đến cả thế hệ trẻ sau này.
Để kết luận tôi muốn nói với ông Lê Xuân Quang một câu chân tình. Tôi không sợ lời cảnh báo của tôi thừa. Tôi chỉ sợ nó quá muộn.

Galveston, Texas 07/2015
Phạm Đức Nhì
nhidpham@gmail.com

 Chú thích và (hoặc) tham khảo:
1/  http://www.vox.com/2015/6/9/8751483/prison-escape-manhunt

3/  https://en.wikipedia.org/wiki/Goodfellas



 Nhớ Rừng


Tác giả: Thế Lữ
Tặng Nguyễn Tường Tam
(Lời con Hổ ở vườn Bách thú)

Gặm một khối căm hờn trong cũi sắt,
Ta nằm dài, trông ngày tháng dần qua.

Khinh lũ người kia ngạo mạn, ngẩn ngơ,
Giương mắt bé riễu oai linh rừng thẳm

Nay sa cơ, bị nhục nhằn tù hãm
Để làm trò lạ mắt, thứ đồ chơi.

Chịu ngang bầy cùng bọn gấu dở hơi,
Với cặp báo chuồng bên vô tư lự.

Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ,
Thủa tung hoành, hống hách những ngày xưa.

Nhớ cảnh sơn lâm, bóng cả, cây già,
Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi,

Với khi thét khúc trường ca dữ dội
Ta bước chân lên, dõng dạc, đường hoàng,

Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng,
Vờn bóng âm-thầm, lá gai, cỏ sắc.

Trong hang tối, mắt thần khi đã quắc
Là khiến cho mọi vật đều im hơi.

Ta biết ta chúa tể muôn của loài
Giữa chốn thảo hoa, không tên không tuổi.

Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối,
Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan?

Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn
Ta lặng ngắm giang san ta đổi mới?

Đâu những bình minh cây xanh nắng gội
Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng?

Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng
Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt

Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật?
Than ôi! thời oanh liệt nay còn đâu?

Nay ta ôm niềm uất hận ngàn thâu
Ghét những cảnh không đời nào thay đổi,

Những cảnh sửa sang, tầm thường, giả dối:
Hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng;

Giải nước đen giả suối, chẳng thông dòng
Len dưới nách những mô gò thấp kém;

Dăm vừng lá hiền lành không bí hiểm
Cũng học đòi bắt chước vẻ hoang vu

Của chốn ngàn năm cao cả, âm u.

Hỡi oai linh, cảnh nước non hùng vĩ!
Là nơi giống hùm thiêng ta ngự trị,

Nơi thênh thang ta vùng vẫy ngày xưa
Nơi ta không còn được thấy bao giờ!

Có biết chăng trong những ngày ngao ngán
Ta đang theo giấc mộng ngàn to lớn

Để hồn ta phảng phất được gần ngươi
Hỡi cảnh rừng ghê gớm của ta ơi!

1936

THẾ LỮ

Lời biện hộ:   Châu Thạch

Thế Lữ là một trong nhưng cây bút đi đầu của phong trào thơ mới. Tác phẩm ghi lại dấu ấn của ông là bài thơ “Nhớ Rừng”. Từ ngày bài thơ được phổ biến đến nay đã tốn không biết bao nhiêu giấy mực ca tụng nó. Gần đây nhà thơ Phạm Đức Nhì trong bài viết “Hai Cái Bẫy Nguy Hiểm Của Nhớ Rừng”* đã có một cái nhìn khác mà nhà văn Lê Xuân Quang nhận xét đại ý là “Cách suy nghĩ phân tích Thơ của ông Phạm Đức Nhì trong cảm thụ Thi ca có những ‘phát kiến…mới’ thiên về thực dụng”
Trong cái nhìn “phát kiến…mới” nầy nhà thơ Phạm Đức Nhì đã phê phán bài thơ “Nhớ Rừng” đại ý như sau:

1/ Con hổ trong vườn bách thú tuy vẫn khao khát tự do, vẫn mơ “giấc mộng ngàn to lớn” nhưng đã mất hết ý chí chiến đấu, đã đành bó tay cam chịu, chấp nhận thực tại phũ phàng.
Hỡi oai linh, cảnh nước non hùng vĩ!

Là nơi giống hùm thiêng ta ngự trị,
Nơi thênh thang ta vùng vẫy ngày xưa

Nơi ta không còn được thấy bao giờ!
2/ Con hổ khao khát tự do. Nhưng nếu được tự do nó sẽ trở thành một bạo chúa, áp dụng chế độ độc tài với “thần dân” của nó.

Trong hang tối, mắt thần khi đã quắc
Là khiến cho mọi vật đều im hơi.

Ta biết ta chúa tể muôn của loài”
Trong phần kết luận bài viết, nhà thơ Phạm Đức Nhì đã nhận định về bài thơ “Nhớ Rừng” có một câu như sau:

“Nhớ Rừng giống như cô gái nhảy xinh đẹp, thân hình sexy, hấp dẫn nhưng mắc chứng bệnh SIDA nguy hiểm.”
Và sau đó trong một bài viết với đề tài “Không Sợ Thừa! Chỉ Sợ Quá Muộn*” để trao đổi với nhà văn Lê Xuân Quang, nhà thơ Phạm Đức Nhì nhấn mạnh hai hành động của Hổ trong vườn bách thú là “bó tay cam chịu số phận” và “mơ ước được tự do sẽ lại làm bạo chúa” là hai cái bẫy nguy hiểm làm thui chột ý chí chiến đấu và cổ vũ cho lòng ham muốn độc tài, hiếp đáp người khác của những thế hệ Việt Nam trước và hiện tại.

Đọc những bài viết của nhà thơ Phạm Đức Nhì tôi xin mạo muội góp một vài ý kiến thổ thiển của mình để biện hộ cho Nhớ Rừng của Thế Lữ. Dẫu ý kiến của tôi có khác biệt nhưng tôi xin bày tỏ lòng cảm mến và khâm phục của tôi đến nhà thơ Phạm Đức Nhì là cây bút thơ và văn điêu luyện mà tôi luôn trân trọng.
- Thứ nhất: Tôi xin nói về con Hổ có khi nào “Bó tay cam chịu, chấp nhận thực tại phũ phàng” không?

Như đã thấy, nhà thơ Phạm Đức Nhì đã bôi đậm câu thơ “Nơi ta không còn được thấy bao giờ” và dựa vào câu thơ ấy mà quả quyết là con Hổ đã mất hết ý chí chiến đấu, cam chịu thân phận tù tội của mình. Để biết nhận xét nầy đúng hay là oan cho con Hổ trước hết ta hãy tìm hiểu con Hổ là biểu tượng của cái gì. Trong nhiều nền văn hoá trên thế giới, con Hổ là biểu tượng của đẳng cấp chiến binh, toát lên vẻ đẹp hùng vĩ và sức mạnh.
Trong Tam Quốc Chí, ngũ hổ tướng của nhà Thục là Quan Vũ, Trương Phi, Triệu vân, Hiếu Trung và Mã Siêu là nhưng mãnh tướng bất khuất mà đến nay thế gian vẫn tôn thờ, trong đó Triệu tử Long được phong là Hổ oai Tướng Quân.

Trong truyện Kiều, Từ Hải là bậc anh Hùng mà khi chết cũng chết đứng đã được Nguyễn Du tôn vinh bằng bộ râu của con Hổ: “Râu hùm, hàm én mày ngài/Vai năm tấc rộng, thân mười thước cao”. Vậy khi nhà thơ Thế Lữ nhốt một con Hổ vào sở thú trong bài thơ của ông thì ông sẽ nhốt con Hổ nào? Chẳng lẽ ông lại đi nhốt con Hổ bạc nhược mất sức chiến đấu hay sao? Hay là ông sẽ nhốt con Hổ biểu tượng của sự cao cả, của bậc anh hùng, của ý chí bất khuất ở trên. Bài thơ cho ta thấy ông đã nhốt con Hổ “Oai linh rừng thẳm” là con Hổ mang đầy đủ biểu tượng của một anh hùng. Kinh nghiệm cho ta thấy không có con vật hoang dã nào, dầu con chim, con sóc cũng không chịu nằm yên trong lồng huống chi là con Hổ. Chỉ trong một phút yếu lòng nhớ rừng xưa con Hổ mới than một câu tưởng như là nó đã bị thuần hoá: “Nơi ta không còn được thấy bao giờ”, nhưng thật ra thế giới bên trong của Hổ vẫn ngùn ngụt ngọn lửa bất khuất. Ngọn lửa đó thể hiện ở chổ nó nhớ rừng da diết, nó khinh thường “những cảnh sửa sang tầm thường, dả dối” và nó khinh không chịu “ngang bầy cùng bọn gấu dở hơi/ với cặp báo chuồng bên vô tư lự”. Hổ đang bị thúc thủ nên nó phải than vãn, nhưng nó đang chờ thời cơ để vùng dậy.
-Thứ Hai: Làm sao biết con Hổ nếu được tự do sẽ chuyên chế, độc tài, hiếp đáp thần dân mình?

Ở trên ta thấy rằng nhà thơ Phạm Đức Nhì đã dùng nhưng câu thơ “Trong hang tối mắt thần khi đã quắc/ Là khiến cho mọi vật đều im hơi/Ta biết ta chúa tể của muôn loài” để kết tội cho Hổ của Thế Lữ là con vật xấu xa, là bạo chúa. Thật ra ba câu thơ trên biểu hiện tác phong, uy vũ của một minh quân. Nếu vua mà không có uy vũ nầy thì làm sao trị quốc bình thiên hạ cho được. Ở đây ta để ý hai chữ “mắt thần”. Mắt thần đương nhiên không phải mắt của bạo chúa mà “mắt thần” là mắt của bậc công chính. Khi “mắt thần”đã quắc thì uy lực từ chính nghĩa làm cho mọi vật đều im hơi. Nếu là mắt của bạo chúa thì “ở đâu có đàn áp, ở đó có đấu tranh”, sẽ không có sự im hơi bao giờ. Trong nền văn hoá dân gian Việt, hình tượng của con vật hung bạo, tàn ác là con Sói, còn hình tượng của Hổ mang ý nghĩa nhân đạo, quyền uy khiến Hổ sở hửu một phẩm hạnh rất cao để trở thành linh vật của tôn giáo. Vậy khi Thế Lữ đưa con Hổ vào bài thơ là đưa một linh vật có bản chất tốt nên không bao giờ có “cái tính muốn làm bạo chúa đã là máu thịt, đã là bản chất của loài hổ.” như lời kết tội Hổ trong bài viết của nhà thơ Phạm Đức Nhì.
-Thứ ba: Bài thơ “Nhớ Rừng’ có là cái bẫy nguy hiểm không?

Tất cả mọi người khi đọc bài thơ “Nhớ Rừng” đều thấy buồn thương cho con Hổ trong vườn bách thú và lòng tự nhiên phấn khích muốn đạp đổ tất cả để vượt trên cuộc sống bình thường, chật hẹp, tù túng. Nhà thơ Thế Lữ đưa hình ảnh con Hổ bị nhốt trong vườn bách thú không phải để chúng ta đọc xong là buồn chán rủ rượi hay đọc xong là mơ ước chuyện cướp bóc, hành hạ tha nhân. Đây là hình ảnh của thế hệ ông bị 100 năm đô hộ giặc Tây. Con người đọc lời than van da diết của con Hổ “gặm một khối căm hờ trong củi sắt” để không bao giờ chịu làm con Hổ như thế, để đứng lên phá xích xiềng, để được sống như Hổ nơi rừng núi oai linh, hùng vĩ ngày xưa. 
Mấy ai trong chúng ta khi đọc xong bài thơ nầy lại muốn mình làm thân phận của con Hổ kia. Vậy thì kết tội bài thơ  như là “Cô gái nhảy ,xinh đẹp mà bị bệnh SIDA” làm lây lan căn bệnh đó khiến cho nhiều thế hệ băng hoại thì thật ra oan khiên quá cho bài thơ, cho Hổ là loài có biểu tượng tốt đẹp và cho thi sĩ là người vì nỗi ray rức cho thân phận nô lệ của mình, của thế hệ mình mà phổ vào thơ, hầu đưa ra một hình ảnh ẩn dụ, để cho người đọc “cảm thụ bằng sự rung động của nhịp tim, kích thích trí tưởng tượng phong phú trong mỗi bộ não …” như lời nhà văn Lê Xuân Quang đã viết.

Vậy “ Nhớ Rừng” tuy là một bài thơ chất chứa tâm trạng tủi nhục của con Hổ trong vườn bách thú nhưng nó không phải là một bài thơ tiêu cực, mà là một bài thơ tích cực, phơi bày sự giả tạo, buồn chán của kiếp sống nô lệ tù tội, khôn khéo trong hoàn cảnh cấm đoán ngôn luận trong thời Pháp thuộc để khích động tinh thần yêu nước, khiến cho cả thế hệ nhìn Hổ  mà ngẫm đến mình, đứng lên phá vòng cương toả.
Hình như giai đoạn sau nầy nhà thơ Thế Lữ còn làm những bài thơ đấu tranh cụ thể hơn, tích cực hơn nhưng rồi ngày nay đã mai một hết, chỉ “Nhớ Rừng” vẫn còn vang bóng . Điều đó chứng tỏ “Nhớ Rừng” là bài thơ đúng đắn nên đã sống và còn sống lâu dài. Nó sống thì nó không phải là một con bệnh SiDA được, và khi  “Nhớ Rừng” sống thì chứng tỏ con Hổ của “ nhớ Rừng”, của Thế Lữ không một khuyết điểm nào nên nền văn học đã nuôi nấng nó ./.   
                                                     Châu Thạch  

 Bài 4: LẠI TÁN CHUYỆN NHỚ RỪNG

   (Viết sau khi đọc Vài Lời Biện Hộ Cho Nhớ Rừng

             Thơ Thế Lữ (1) Của Châu Thạch)

Bắt Đầu Từ Một Ẩn Dụ
Có dạo đọc đi, đọc lại mấy bài thơ “mới” (từ một trang web luôn hô hào làm mới thơ) mà chẳng hiểu tác giả muốn nói gì, càng đọc càng thấy tối mù. Hơi bực bội nên nổi hứng viết bài thơ dưới đây:

Tấm Bản Đồ Vẽ Sai
(Chức năng truyền thông của thơ)

Chọn lô đất tốt xây được ngôi nhà mới
ông mở tiệc mừng tân gia
“Đến chơi! Hay lắm!”
thư ông viết
mời bằng hữu gần xa

Ngay giữa trang thư một bản đồ
dọc ngang tự tay ông vẽ 
và lời chỉ dẫn cặn kẽ
đường đi nước bước đến cuộc vui

Giờ hẹn đến rồi
chưa thấy bóng khách mời nào xuất hiện
đồ ăn nguội lạnh
bàn tiệc vẫn vắng tanh

Vài ngày sau
ông nhận được mấy thư trả lời
trong thư chỉ vỏn vẹn:
“Xin lỗi!
Không tìm thấy nhà.”

(Phạm Đức Nhì)
Nếu giải mã phép ẩn dụ thì bài thơ có ý nghĩa như sau:

Bài thơ là tấm bản đồ bằng chữ chỉ đường, từng bước, từng bước đưa dẫn người đọc đến cánh cửa trái tim đang mở rộng của tác giả. Những lời chỉ dẫn này phải rõ ràng, dễ hiểu, vì nếu rắc rối hoặc mơ hồ, dễ gây hiểu lầm, sẽ khiến người đọc đi lạc đường.

Nếu thi sĩ không nắm vững kỹ thuật thơ ca, không có ý tứ mới lạ, hoặc lúc không có hứng cũng cố gượng gạo mà viết, thì sẽ được một bài thơ… dở, không có hồn. Nhưng nếu chức năng truyền thông của bài thơ thất bại thì tất cả câu chữ, hình ảnh, âm thanh, biện pháp tu từ … đều đổ xuống sông, xuống biển hết. Nó sẽ trở thành một câu đố bí hiểm mà chỉ chính người tạo ra nó mới có câu trả lời. Ai xui xẻo đọc phải bài thơ này thì cứ như đi vào rừng rậm trong đêm tối, chẳng biết mình đang ở chỗ nào và sẽ đi về đâu.

Viết xong bài thơ tôi khoái chí gởi ngay cho một người bạn – không làm thơ nhưng biết thưởng thức thơ và đặc biệt “bàn thơ” rất có nét – và được hắn lên tiếng khen ngợi: “Phép ẩn dụ rất khéo và có duyên.” Tôi lưu bài thơ vào folder Những Bài Thơ Về Thơ để một ngày đẹp trời nào đó sẽ viết một bài bàn về nhiều khía cạnh của thi ca mà những bài thơ này sẽ là những minh họa đắt giá. Hơn một năm trôi qua, Những Bài Thơ Về Thơ đã gần đến con số 20 nhưng bài viết tôi đặt vào đó rất nhiều tâm huyết vẫn chưa hoàn thành.

Tháng trước, một buổi chiều cuối tuần, mấy người bạn tụ họp, cà phê cà pháo bù khú đủ chuyện trên trời dưới đất, tôi hí hửng đem bài thơ ra khoe. Nghe xong, trong lúc mọi người đang gật gù suy nghĩ để tứ thơ thấm vào hồn thì một anh bạn vừa cười vừa to tiếng nói với tôi:
“Sao ông lại có mấy thằng bạn ngu thế nhỉ! Phone đâu mà không gọi hỏi đường?”
Tôi ngồi đực mặt, ngượng đến chín người.
Đúng vậy! Bài thơ của tôi là một ẩn dụ mà tôi đinh ninh là hay và sâu sắc. Nhưng câu hỏi của anh bạn đã “chọc” đúng vào khe hở của nó mà đến lúc đó tôi mới nhận ra. Ẩn dụ không kín kẽ và bài thơ, có thể nói là thất bại. Cuối cùng, đành phải chữa cháy bằng cách thêm vào bên dưới tựa bài thơ một câu “Vào cái thời mà điện thoại còn là xa xỉ phẩm đối với nhiều người Việt Nam”. Nhưng mấy người bạn khó tính vẫn lắc đầu và bài thơ cho đến giờ cũng còn “nằm xó bếp”.

Thế Lữ, trong Nhớ Rừng, đã phạm một lỗi lầm tương tự. Ông gởi tâm sự của mình vào con hổ trong vườn bách thú. Trong lúc mê say với vẻ đẹp đầy sức mạnh, uy quyền và oai phong lẫm liệt của nó, ông quên một điều: con hổ là Chúa Sơn Lâm, một đấng Quân Vương nơi rừng núi nhưng lại là một thứ Chúa Sơn Lâm vô cùng độc đoán và tàn bạo. Ngay cả anh Châu Thạch, người ra sức bênh vực cho ông, có lẽ cũng quên, nên đã lên tiếng hỏi:  Làm sao biết con Hổ nếu được tự do sẽ chuyên chế, độc tài, hiếp đáp thần dân mình?
Khi con hổ được tự do nó sẽ đi đâu? Chắc chắn nó sẽ về với thần dân của nó nơi rừng sâu núi thẳm. Thần dân của nó là ai? Là trâu bò, hươu nai khỉ dê heo chó, các loài chim … nghĩa là đủ mọi loại súc vật hoang dã. Mỗi ngày, để thỏa mãn nhu cầu bao tử, nó sẽ không họp “hội đồng rừng” một cách dân chủ để tìm giải pháp mà tự động đi kiếm mồi. Gặp trâu nó vồ trâu, gặp bò nó xé xác bò. Hôm qua ăn bò rồi hôm nay muốn đổi món thì nó tìm bắt dê. Ôi! Muốn giết ai thì giết. Muốn ăn thịt ai thì ăn. Đối xử với thần dân của mình như thế mấy từ “độc đoán, độc tài, tàn bạo” theo tôi, còn quá nhẹ.

Trong TBĐVS tôi tạo ra một khung cảnh xã hội có những vị khách đi lạc đường vì lần theo tấm bản đồ vẽ sai – ám chỉ có những độc giả đọc phải bài thơ mà chức năng truyền thông thất bại nên chẳng hiểu gì cả. Tôi không để ý nên quên một chi tiết quan trọng: điện thoại di động. Những chiếc cell phones - thời buổi này hầu như người nào cũng có - khiến đoạn kết của bài thơ trở nên ngờ nghệch và câu chữ của cả bài thơ rã ra như cám. Cũng tương tự như vậy, tính độc đoán, bạo tàn là bản chất của con hổ, đã thấm vào xương cốt của nó, giống như vi khuẩn HIV của chứng bịnh SIDA tiềm ẩn trong người cô gái đẹp. Thế Lữ không để ý nên đã “quên”, đem cô gái giới thiệu cho Nguyễn Tường Tam
Tôi không tin Thế Lữ muốn ám chỉ NTT - chủ soái của Tự Lực Văn Đoàn mà ông là thành viên - là một thủ lãnh độc tài, độc đoán, bạo tàn. Chính sơ hở của phép ẩn dụ đã đưa người đọc đến kết luận ấy.

Ngoài ra Nhớ Rừng còn có một mâu thuẫn về ý chí vượt thoát tìm tự do của con hổ. Tôi không tin là con hổ - với dòng máu kiên cường trong huyết quản - chấp nhận buông tay cam chịu tù đày đến hết đời. Là con người, hiểu rõ số phận và thực trạng của con hổ lúc đó, nên Thế Lữ đã vô ý nhưng rất chân thành cho con hổ thốt lên những lời than tuyệt vọng: “Nơi ta không còn được thấy bao giờ”. Ở đây chúng ta có 2 con hổ:
     1/ Con hổ thực trong vườn bách thú: khao khát tự do, nhớ rừng da diết, khinh “những cảnh sửa sang tầm thường giả dối”, không muốn “ngang bầy cùng bọn gấu dở hơi/ với cặp báo chuồng bên vô tư lự” và vẫn đang chờ thời cơ để vùng thoát. (Chữ nghiêng là ý của Châu Thạch)
     2/ Con hổ trong tâm tưởng của Thế Lữ: vẫn là con hổ trong vườn bách thú như con hổ trên; vẫn khao khát tự do, vẫn nhớ rừng da diết … Chỉ khác một điều là Thế Lữ biết số phận của con hổ vào thời điểm đó trong vườn bách thú - phải chịu tù đày cho đến chết - nên đã ép đặt vào miệng nó những lời than tuyệt vọng, trái với bản tính kiên cường của loài hổ.

Khi đọc TBĐVS người tinh ý có thể nhận ra ngay khe hở của phép ẩn dụ. Tôi, tác giả bài thơ, và người bạn khen (lầm) bài thơ có “Phép ẩn dụ rất khéo và có duyên” đã phải cúi đầu nhận sai sót. Bởi nó quá rõ ràng, có muốn cãi, muốn bênh vực cũng chẳng có cách nào.
Nhớ Rừng có đến hai cái “sót”. Một do sơ hở của phép ẩn dụ, một do tác giả trong lúc cao hứng, hồn thơ lai láng, đã “quá thật tình” đặt lên miệng con hổ một tiếng thở dài não nuột, một lời than tuyệt vọng không đúng với bản chất “hổ” của nó.

Mấy bạn văn của tôi đều cho rằng Thế Lữ không có ý như thế. Điều ấy đúng. Nhưng ông là người tổ chức thế trận chữ nghĩa cho bài thơ. Người đọc không có bổn phận – và cũng không thể - đọc những suy nghĩ trong đầu ông. Họ chỉ dựa vào văn bản, dựa vào khả năng chuyển tải thông tin của câu chữ để “bắt” tứ thơ, để cảm nhận cái hay, cái đẹp của bài thơ. Chính ông, chứ không ai khác, dù “sơ sót” vì bất cứ lý do gì, phải chịu trách nhiệm về “hai cái bẫy nguy hiểm của Nhớ Rừng”
Bên cạnh hai điểm “sai sót” nói trên NR còn có một chỗ yếu về âm điệu: hội chứng nhàm chán vần. Bài thơ dài (47 câu), mỗi câu 8 chữ đều đặn (có một câu 10 chữ), vần gieo liên tiếp nên chỉ đọc non nửa bài là cái giọng ầu ơ, cái nét đơn điệu, tẻ nhạt đã hiện ra rất rõ, càng về cuối càng nặng nề.

Bù lại, cái hay của Nhớ Rừng lại rất “lớn”, nếu đề cập hoặc bàn luận thì chỉ cần một vài câu, nhưng – như những cánh én báo hiệu mùa xuân – những ưu điểm “cao cấp” này thường xuất hiện để báo hiệu một bài thơ Hay, Có Hồn. Đó là cảm xúc mạnh, nóng bỏng, hơi thơ dài như một con sông, dòng chảy xiết. Đặc biệt, từ câu thơ đầu cho đến câu thơ cuối cùng, cường độ và “nhiệt độ” của cảm xúc vẫn không suy giảm, dòng chảy của thơ vẫn băng băng. Ngoài ra, ngôn ngữ của Nhớ Rừng cao sang, thích hợp với khẩu khí Chúa Sơn Lâm của con hổ. (2)
Tóm lại, con hổ trong tâm tưởng của Thế Lữ được thi tài của ông chuyển đến người đọc là một hình tượng thơ rất đẹp: kiêu hùng, uy quyền, oai phong lẫm liệt, rất khao khát tự do, thèm và thường mơ được trở về rừng xưa núi cũ. Nhưng bên dưới cái vẻ đẹp bề ngoài ấy là hai tính xấu: mơ về lại núi rừng để hưởng địa vị của một Chúa Sơn Lâm độc đoán, bạo tàn nhưng lại hèn, bó tay cam chịu, không dám nghĩ đến kế hoạch và hành động vượt thoát.

Kết Luận
Để kết luận tôi xin phép lập lại một ý trong bài Không Sợ Thừa - Chỉ Sợ Quá Muộn: Nhiều người Việt Nam không phải chỉ mới nhiễm HIV mà chứng bệnh SIDA Nhớ Rừng - cả loại 1 lẫn loại 2 - đã phát tác, đã tàn phá, không chỉ thể xác mà luôn cả tâm hồn họ và có thể đã lây lan đến thế hệ trẻ sau này.
Cô gái mắc bệnh SIDA càng đẹp, càng sexy thì cơ hội lây bệnh cho người khác càng nhiều. Là bài thơ Hay, Có Hồn nên (xin cảnh báo một lần nữa) hai cái bẫy của Nhớ Rừng vẫn vô cùng nguy hiểm.

Phạm Đức Nhì
nhidpham@gmail.com

Chú Thích:


2/ Có một câu không hợp với khẩu khí của con hổ:

          Nơi ta không còn được thấy bao giờ

 

 

 

 

 

 

 

 

Thứ Sáu, 15 tháng 7, 2016

TẠ LỖI TRƯỜNG SƠN: BÀI THƠ NGƯỢC DÒNG NÓNG BỎNG


Vài Lời Phi Lộ 

Tôi biết đến Đỗ Trung Quân và tài thơ của anh qua bản nhạc Quê Hương – thơ anh được Giáp Văn Thạch phổ nhạc. Lúc ấy – còn ở trong tù - tôi chưa biết, chưa được đọc nguyên bài thơ Bài Học Đầu Cho Con của anh. Mặc dầu hơi có cảm giác khó chịu khi nghe đoạn cuối:

Quê hương mỗi người chỉ một

Như là chỉ một mẹ thôi

Quê hương nếu ai không hiểu (sau này đổi hiểu thành nhớ)

Sẽ không lớn nổi thành người

nhưng phải công nhận phần còn lại của bản nhạc (thơ) là những bức tranh về quê hương thật dễ thương. Ở đó – cũng giống Ông Đồ của Vũ Đình Liên – thi đã hoá thân thành họa; tác giả đã tặng cho đời những bức tranh thơ tuyệt đẹp.

Tết Canh Dần (2010) tình cờ đọc Tạ Lỗi Trường Sơn của ĐTQ trên Tiền Vệ tôi đã cao hứng viết bài thơ trong đó có đoạn:

 

 Ngày xưa anh hát

“Quê hương là chùm khế ngọt”

Sao bây giờ cắn quả khế nào anh cũng che mặt bảo chua?

 

Có phải tại ngày xưa khế chua

nhưng muốn được lòng người anh yêu (1)

anh nói bừa là khế ngọt?

Hay tại sống với kẻ vô tình

lâu rồi khế ngọt cũng thành chua? (2)

 

 có ý muốn “đá giò lái” anh một cái. Nhưng không hiểu sao tôi vẫn khoái những câu chửi rất bộc trực, bốp chát – không giữ ý tứ, không dòm trước ngó sau - của anh nên hôm nay cũng bày đặt nhảy vô viết mấy lời bình. 

  

 Ý, Tứ:

 

Bài thơ là những lời đốp chát nói thẳng (không ẩn dụ) nên ý với tứ là một: Sau khi chiếm được miền nam năm 1975 “những người nhân danh Hà Nội” đã khinh khi dân Sài Gòn nói riêng và dân miền nam nói chung như cỏ rác, dùng những từ xấu xa nhất để gán cho họ; nhưng rồi chính “những người nhân danh Hà Nội” – trong đời sống thực tế - đã biểu lộ một nhân cách còn tệ hại và đáng khinh khi hơn nhiều.                                

 

 Hình Thức:

 

TLTS có vóc dáng của thơ mới nhưng đã được tác giả đưa vào những thay đổi tích cực:

 

1/ Số câu không giới hạn.

 

Viết cho đến khi hết hứng, hết ý thì thôi. Theo cách đếm câu của PĐN thì bài thơ dài xấp xỉ 100 câu.

 

 2/ Số chữ trong câu:

 

Câu ngắn nhất 2 chữ (Bây giờ), câu dài nhất 18 chữ - đúng hơn là âm tiết - (Các anh cũng chạy bấn người đi lùng kiếm tủ lạnh ti vi, casette, radio...) còn lại thì tùy hứng, không tuân theo một luật lệ nào.

 

 3/ Vần:

 

Vần liên tiếp khá đều đặn nhưng nhờ số chữ trong câu thay đổi tùy tiện, thỉnh thoảng tác giả lại chuyển đoạn thay vần, có chỗ sử dụng cả vần gián cách (3) để chuyển âm bằng trắc nên độ ngọt vừa phải, không có hội chứng nhàm chán vần. “Lối chơi vần” rất nhuyễn của ĐTQ khiến dòng thơ chảy trơn tru, nhiều đoạn dòng chảy rất xiết, tạo cơ hội cho hồn thơ hình thành và lớn mạnh.

 

 Ngôn ngữ:

 

Mạnh bạo, hằn học, vỗ thẳng mặt, “lấy chữ của mày để chửi mày” nhưng rõ ràng, dễ hiểu, chức năng truyền thông của bài thơ thành công. Một số hình tượng rất hay như:

 

 Các anh hùa nhau lập tòa án bằng văn chương

Mang tuổi trẻ Sài Gòn ra trước vành móng ngựa!!!

 

Và:

 

Các anh cũng chạy đứt hơi

Rượt bắt và trùm kín đầu những rác rưởi Sài Gòn thời quá khứ

 

 Giải Thích Thêm Về Tứ Thơ:

 

Đỗ Trung Quân viết Tạ Lỗi Trường Sơn với tâm thế của dân Sài Gòn (miền nam) nên dù đã từng đi TNXP, từng khoác áo bộ đội giọng thơ cũng vẫn có mùi của bên thua cuộc. Nhưng trong cái đoàn dài đến mấy chục triệu nguời của bên thua cuộc ấy ĐTQ đứng ở gần cuối hàng. Tâm hồn anh đã gần như nghiêng hẳn về phía bên kia. Anh “Tội nghiệp Sài Gòn quá thể” nhưng Sài Gòn với anh là ai?

 

Là:

 

anh thợ điện ra đi không về

 

là:

 

những “bà mẹ Bàn Cờ” của những ngày chống Mỹ

 

là:

 

những người Sài Gòn đi xa

đi từ tuổi hai mươi

nhận hoang đảo tù đày để nói về lòng ái quốc.

 

 toàn là những người sống ở miền nam, ăn cơm miền nam nhưng lòng dạ đã giao hết cho “phía bên kia”

 

Và qua đoạn thơ dưới đây:

 

Tội nghiệp những ông cha rời khỏi nhà dòng

Áo chùng đen đẫm máu

Tội nghiệp những chiến trường văn chương, thi ca, sách báo

Những vị giáo sư trên bục giảng đường

Ưu tư nhìn học trò mình nhiễm độc

 

tôi chưa dám nói là anh đã có lối suy nghĩ hoàn toàn giống bên thắng cuộc nhưng những gì họ nói anh đã rất tin tưởng và ghi khắc trong lòng.

 

Tại sao ĐTQ lại bực bội đến độ phẫn uất để có thể viết lên những vần thơ “bừng bừng lửa giận”, chảy ngược với dòng thơ phải đạo như thế? Để tìm câu trả lời cho câu hỏi ấy tôi mời bạn đọc trở lại phần đầu của bài thơ:

 

 Các anh đến

Và nhìn Sài Gòn như thủ đô của rác

Của xì ke, gái điếm, cao bồi

Của tình dục, ăn chơi

“Hiện sinh – buồn nôn – phi lý!!!”

Các anh bảo con trai Sài Gòn không lưu manh cũng lính ngụy

Con gái Sài Gòn không tiểu thư khuê các, cũng đĩ điếm giang hồ

Các anh bảo Sài Gòn là trang sách “hư vô”

Văn hóa lai căng không cội nguồn dân tộc

 

 

Ngòi bút các anh thay súng

Bắn điên cuồng vào tủ lạnh, ti vi

Vào những đồ tiêu dùng mang nhãn Hoa Kỳ

Các anh hằn học với mọi tiện nghi tư bản

Các anh bảo tuổi trẻ Sài Gòn là “thú hoang” nổi loạn

Là thiêu thân ủy mị, yếu hèn

Các anh hùa nhau lập tòa án bằng văn chương

Mang tuổi trẻ Sài Gòn ra trước vành móng ngựa!!!

 

Vâng! Đó là thái độ hết mực khinh khi của “những người nhân danh Hà Nội” đối với (dân) Sài Gòn nói riêng và cả miền nam nói chung. Nhưng sau 7 năm thì theo ĐTQ, “những người nhân danh Hà Nội”

 

“đang ngồi giữa Sài Gòn bắt đầu chửi bới”

“chửi vào tên những làng quê ghi trong lí lịch của mình”

 

Và:

 

“sợ đến tái xanh

khi có ai nói bây giờ về lại Bắc”

 

ĐTQ viết tiếp:

 

Bây giờ

Những đứa con đang tự nhận mình “trong sạch”

Đang nói về quê mẹ của mình như kẻ ngoại nhân

Các anh

Đang ngồi giữa Sài Gòn nhịp chân

Đã bờm xờm râu tóc, cũng quần jean xắn gấu

Cũng phanh ngực áo, cũng xỏ dép sa bô

Các anh cũng chạy bấn người đi lùng kiếm tủ lạnh ti vi, casette, radio...

Bia ôm và gái

 

Các anh ngông nghênh tuyên ngôn ”khôn và dại”

Các anh bắt đầu triết lý “sống ở đời”

Các anh cũng chạy đứt hơi

Rượt bắt và trùm kín đầu những rác rưởi Sài Gòn thời quá khứ

 

 À! Thì ra là “chúng mày nói phét, chúng mày lừa ông”. Và thi sĩ của chúng ta nổi trận lôi đình, “chửi vung tít mẹt”. Bài thơ nặng mùi của bên thua cuộc là vì thế.

 

Vâng! Có thể nói Tạ Lỗi Trường Sơn là tập hợp một cách đầy nghệ thuật những lời đốp chát, vỗ thẳng mặt, nói hằn học trong cơn giận dữ, phân định “mi”, “ta” rõ ràng. “Ta nói thẳng cho mi biết: Bây giờ cái bản mặt đạo đức giả của mi đã lộ ra. Những xấu xa bẩn thỉu ngày nào mi gán cho ta thì giờ này mi bẩn thỉu xấu xa còn gấp nhiều lần hơn thế nữa.” 

 

 Trong cơn lửa giận phừng phừng ĐTQ đã “bật mí” hai điểm mà “những người nhân danh Hà Nội” đã cố bưng bít dấu diếm.

 

Một là, những cái “ưu việt” của chế độ và con người XHCH chỉ là phét lác. Dân miền bắc ngạc nhiên đến choáng ngợp (4) trước sức phát triển và vẻ đẹp của “Hòn Ngọc Viễn Đông” (5) và các thành phố lớn ở miền nam. Mức sống của dân miền nam lúc đó khá cao - đặc biệt là thực phẩm và tiện nghi vật chất - đã vượt xa mức sống của người dân miền bắc.

 

Hai là, chính quyền đã có hẳn một chính sách đẩy dân miền nam đi vủng kinh tế mới để đưa dân miền bắc vào “chiếm” những “điểm then chốt” trong những thành phố lớn - đặc biệt là Sài Gòn.

 

Tạ Lỗi Trường Sơn được nhiều người khoái (dĩ nhiên là dân miền nam), tán tụng là bài thơ “hết sẩy” cũng nhờ một phần ở nội dung của nó. Tác giả đã “không chịu trôi xuôi” mà dám “lội ngược dòng” (ý thơ Nguyễn Duy), viết nên những vần thơ đối chọi vớì dòng thơ phải đạo, nói lên những điều bị coi là cấm kỵ, không ai dám nói dù là sự thật. Chính vì thế mà bài thơ phải chờ đến 27 năm sau mới được trình làng.

 

Hơi Thơ, Hồn Thơ:

 

Cái hay nhất, cái tuyệt vời của bài thơ là cảm xúc. Hơi thơ tỏa nhiệt ngay từ những câu đầu, dẫn người đọc đi một lèo tới đích. Cảm xúc từ câu chữ tỏa ra đã khá mạnh, rồi do - bài thơ nhất khí liền mạch – sóng sau dồn sóng trước nên cảm xúc đến từ thế trận của toàn bài dâng lên cao ngất. Hơn nữa tác giả viết trong lúc đang lên cơn - lửa giận phừng phừng –  thoát khỏi sự can thiệp của lý trí, nên không còn biết sợ, chữ nghĩa cứ hàng hàng lớp lớp tuôn ra khiến hơi thơ rất mạnh và nóng bỏng, hồn thơ lai láng.

 

 Bài thơ này phía “ta” nghe rất sướng tai, nhưng phía “mi” thì “biết là nó nói đúng đấy nhưng cái kiểu ‘vuốt mặt không chịu nể mũi’ như thế thì làm sao có thể chấp nhận được!”

 

Về Câu Kết Của Bài Thơ

 

Cuộc sống của anh ở miền nam đang an lành, tiện nghi vật chất tương đối đầy đủ, tinh thần thì tự do thoải mái. Người ta từ bắc vào “cầm chịch” mọi góc cạnh của đời anh. Người ta chê anh đủ điều, khinh khi anh ra mặt, chửi anh như tát nước . Sau đó anh đã nhận ra là người ta chỉ là bọn đạo đức giả; những gì người ta chê anh, khinh anh, chửi anh thì bậy giờ người ta lại lậm vào còn gấp nhiều lần hơn thế nữa. Anh đùng đùng nổi giận, chửi một hơi dài, rất văn hoa, rất có hồn, nghe rất đã.

 

Nhưng cuối cùng anh lại buông câu kết “Ai Bây Giờ Sẽ Tạ Lỗi Với Trường Sơn?” nghĩa là anh vẫn “tôn thờ” cái việc vượt Trường Sơn của người ta, vẫn xem cái việc người ta tự dưng từ bắc vào nam nắm đầu anh, cai quản cuộc đời anh là đúng. Câu kết ấy phải nói là trật lất và lãng nhách.

 

Kết Luận

 

Dù Tạ Lỗi Trường Sơn chưa phải là toàn bích, và cho đến thời điểm này (2016) bài thơ mới có trên dưới 7 năm thử thách với thời gian nên chưa thể kết luận gì về sức sống của nó. Nhưng chỉ nhìn vào giá trị nghệ thuật của bài thơ tôi phải công nhận là Đỗ Trung Quân tài hoa. Mới 27 tuổi đã viết được một thi phẩm giá trị, đã đưa được hơi nóng hừng hực của tuổi trẻ trong lúc đang “nộ khí xung thiên” vào thơ. Cái giây phút “lên cơn” ấy đâu phải lúc nào cũng đến với thi sĩ. Mà nếu may mắn nó có đến, đâu phải ai cũng nhanh tay chộp được để đưa nó vào thơ.

 

Cái hồn thơ, cái hơi thơ mạnh mẽ nhường ấy khiến TLTS đứng nổi bật ở một góc riêng và tôi mạnh dạn tiên đoán rằng – cũng giống như Ông Đồ và Sông Lấp là chứng nhân cho một giai đoạn lịch sử của dân tộc, giai đoạn Nho Học lụi tàn, Tạ Lỗi Trường Sơn của Đỗ Trung Quân – cùng với 2 bài thơ ngược dòng khác – cũng sẽ đi vào văn học sử, là chứng nhân cho một giai đoạn lịch sử khác, giai đoạn chế độ XHCN bị áp đặt trên toàn cõi Việt Nam.

 

 Phạm Đức Nhì

nhidpham@gmail.com  

 

CHÚ THÍCH:

 

1/ nhưng lại không yêu anh

2/ Quê Hương - Kẻ Đi Người Ở, Phạm Đức Nhì, t-van.net

 

3/

 

Tội nghiệp chiếc cầu Công Lý

Có anh thợ điện ra đi không về

Tội nghiệp những “bà mẹ Bàn Cờ” của những ngày chống Mỹ

Lửa khói vỉa hè nám cả những hàng me

 

4/ Trước khi vào nam (1975) dân miền bắc phải học tập để biết rằng những sự phát triển và vẻ đẹp của Sài Gòn, của miền nam, những tiện nghi vật chất của người dân chỉ là “phồn vinh giả tạo”

 

5/ Tên khác của Sài Gòn được người ngoại quốc gọi một cách nể trọng.

 

PHỤ LỤC:

 

 

Tạ lỗi Trường Sơn

 

 

1.

 

Một ngàn chín trăm bảy mươi lăm

Các anh từ Bắc vào Nam

Cuộc trường chinh 30 năm dằng dặc

Các anh đến

Và nhìn Sài Gòn như thủ đô của rác

Của xì ke, gái điếm, cao bồi

Của tình dục, ăn chơi

“Hiện sinh – buồn nôn – phi lý!!!”

 

Các anh bảo con trai Sài Gòn không lưu manh cũng lính ngụy

Con gái Sài Gòn không tiểu thư khuê các cũng đĩ điếm giang hồ

Các anh bảo Sài Gòn là trang sách “hư vô”

Văn hóa lai căng không cội nguồn dân tộc

 

Ngòi bút các anh thay súng

Bắn điên cuồng vào tủ lạnh, ti vi

Vào những đồ tiêu dùng mang nhãn Hoa Kỳ

Các anh hằn học với mọi tiện nghi tư bản

Các anh bảo tuổi trẻ Sài Gòn là “thú hoang” nổi loạn

Là thiêu thân ủy mị, yếu hèn

Các anh hùa nhau lập tòa án bằng văn chương

Mang tuổi trẻ Sài Gòn ra trước vành móng ngựa!!!

 

2.

 

Tội nghiệp Sài Gòn quá thể

Tội nghiệp chiếc cầu Công Lý

Có anh thợ điện ra đi không về

Tội nghiệp những “bà mẹ Bàn Cờ” của những ngày chống Mỹ

Lửa khói vỉa hè nám cả những hàng me

Tội nghiệp những người Sài Gòn đi xa

Đi từ tuổi hai mươi

Nhận hoang đảo tù đày để nói về lòng ái quốc

 

Có ai hỏi những hàng dương xanh

Xem đã bao nhiêu người Sài Gòn hóa thân vào sóng nước

Tội nghiệp những đêm Sài Gòn đốt đuốc

Những “người cha bến tàu” xuống đường với bao tử trống không

 

Tội nghiệp những ông cha rời khỏi nhà dòng

Áo chùng đen đẫm máu

Tội nghiệp những chiến trường văn chương, thi ca, sách báo

Những vị giáo sư trên bục giảng đường

Ưu tư nhìn học trò mình nhiễm độc

Sài Gòn của tôi – của chúng ta.

Có tiếng cười

Và tiếng khóc.

 

3.

 

Bảy năm qua đi với nhiều buồn vui đau xót

Một góc phù hoa ngày cũ qua rồi

Những con điếm xưa có kẻ đã trở lại làm người

giã từ ghế đá công viên để sống đời lương thiện

 

Những gã du đãng giang hồ

cũng khoác áo thanh niên xung phong lên rừng xuống biển

Tìm lại hồn nhiên cho cuộc sống của mình

Cuộc đổi thay nào cũng nhiều mất mát, hi sinh...

 

4.

 

Và khi ấy

Thì chính “các anh”

Những người nhân danh Hà Nội

Các anh đang ngồi giữa Sài Gòn bắt đầu chửi bới

 

Chửi đã đời

Chửi hả hê

Chửi vào tên những làng quê ghi trong lí lịch của chính mình

Các anh những người nhân danh Hà Nội sợ đến tái xanh

Khi có ai nói bây giờ về lại Bắc!!!

 

Tội nghiệp những bà mẹ già miền Bắc

Những bà mẹ mấy mươi năm còng lưng trên đê chống lụt

Những bà mẹ làm ra hạt lúa

Những năm thất mùa phải chống gậy ăn xin

Những bà mẹ tự nhận phần mình tối tăm

Để những đứa con lớn lên có cái nhìn và trái tim trong sạch

 

Bây giờ

Những đứa con đang tự nhận mình “trong sạch”

Đang nói về quê mẹ của mình như kẻ ngoại nhân

Các anh

Đang ngồi giữa Sài Gòn nhịp chân

Đã bờm xờm râu tóc, cũng quần jean xắn gấu

Cũng phanh ngực áo, cũng xỏ dép sa bô

Các anh cũng chạy bấn người đi lùng kiếm tủ lạnh ti vi, casette, radio...

Bia ôm và gái

 

Các anh ngông nghênh tuyên ngôn ”khôn và dại”

Các anh bắt đầu triết lý “sống ở đời”

Các anh cũng chạy đứt hơi

Rượt bắt và trùm kín đầu những rác rưởi Sài Gòn thời quá khứ

Sài Gòn 1982 lẽ nào...

Lại bắt đầu ghẻ lở?

 

5.

 

Tội nghiệp em

Tội nghiệp anh

Tội nghiệp chúng ta những người thành phố

Những ai ngổn ngang quá khứ của mình

Những ai đang cố tẩy rửa “lí lịch đen”

Để tìm chỗ định cư tâm hồn bằng mồ hôi chân thật

 

6.

 

Xin ngả nón chào các ngài

“Quan tòa trong sạch”

Xin các ngài cứ bình thản ăn chơi

Bình thản đổi thay lốt cũ

 

Hãy để yên cho hàng me Sài Gòn

Hồn nhiên xanh muôn thuở

Để yên cho xương rồng, gai góc

Chân thật nở hoa.

 

Này đây!

Xin đổi chỗ không kì kèo cho các ngài cái quá khứ ngày xưa

Nơi một góc (chỉ một góc thôi)

Sài Gòn bầy hầy, ghẻ lở

 

Bây giờ...

Tin chắc rằng trong các ngài đã vô số kẻ tin vào ”thượng đế”

Khi sống hả hê giữa một thiên đường

 

Ai bây giờ

Sẽ

Tạ lỗi

Với Trường Sơn?

(1982)